Đăng ký Ðăng nhập








Scroll Left
(130 x 300)
Xem tại Đây...







Scroll Right
(130 x 300)
Xem tại Đây...
Kết quả 1 đến 12 của 12
  1. #1
  2. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  3. Bài viết
    297
  4. Thanks
    4
  5. Thanked 136 Times in 95 Posts
  6. Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    10H25' pm ngày 20/8 Tân Mão ( KinhTC )

    Để giúp các bạn sinh viên yêu thích những câu truyện thần thoại, và truyền thuyết của Việt Nam 1 cách sâu sắc và dễ hiểu nhất. Hôm nay, longphi mạn phép mở Topic này, cũng là 1 phần giúp các bạn giải sờ trét đối với những môn học căng thẳng.


    Lưu ý: Trong topic này, longphi mong các bạn đừng post bài chèn vào bài của longphi để longphi có thể post những câu truyện liền mạch và những bạn xem sau cũng có thể xem trọn vẹn mà không bị chen ngang, nếu bạn nào thấy hữu ích chỉ cần ấn vào nút thanks là được.

    Thanks và Chúc vui khỏe!

    LĨNH NAM CHÍCH QUÁI


    Chào các bạn,

    Lĩnh Nam Chích Quái là một trong những tác phẩm văn học dân gian đầu tiên của Việt Nam, viết bằng chữ Hán văn xuôi, rất quý hiếm còn lại từ thời Lý, Trần. Cho đến nay sách Việt dịch của Lĩnh Nam Chích Quái không nhiều, thế nên, thiết nghĩ việc chuyển dịch từ chữ Hán sang chữ Việt, giới thiệu các nhân vật, các câu chuyện trong “Lĩnh Nam Chích Quái” cho mọi người – đặc biệt cho lớp trẻ – là điều rất cần thiết và quan trọng vậy.
    Chúng tôi sẽ lần lượt dịch các truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái, và anh Trần Đình Hoành sẽ bình các truyện này hầu làm rõ ẩn nghĩa, và sẽ đăng để chia sẻ với các bạn.

    Nguyễn Hữu Vinh

    LĨNH NAM CHÍCH QUÁI


    Nguyễn Hữu Vinh
    Lĩnh Nam Chích Quái (1) là một trong những tác phẩm văn học dân gian đầu tiên của Việt Nam, viết bằng chữ Hán văn xuôi, rất quý hiếm còn lại từ thời Lý, Trần. Chưa biết rõ tác giả là ai, có thể do Trần Thế Pháp (2) soạn vào khoảng cuối thế kỷ XIV, sau được Vũ Quỳnh (3) và Kiều Phú (4) ở cuối thế kỷ XV hiệu chính.
    Đoàn Vĩnh Phúc (5) , thời Mạc trích từ “Việt Điện U Linh” chép thêm nhiều truyện mới trong quyển 3 (tục biên). Đoàn Vĩnh Phúc khi viết tiếp quyển 3, có ghi trong phần Bạt một dữ kiện quan trọng là Lĩnh Nam Chích Quái do Vũ Quỳnh và Kiều Phú hiệu chính, bổ sung gồm 2 quyển, tất cả có 22 truyện, bắt đầu từ truyện Hồng Bàng và chấm dứt ở truyện Dạ Xoa. Cuối thế kỷ 18 lại có Vũ Khâm Lân bổ sung thêm.
    Trải qua nhiều thế kỷ, Lĩnh Nam Chích Quái được nhiều người hiệu chính và tu bổ, hiện nay được biết có 11 truyền bản còn lưu lại. Những truyền bản này có số truyện khác nhau cũng như tên gọi cũng khác nhau, có bản có 22 truyện, có bản có tới 43 truyện. Các bản có nhiều tên gọi khác nhau như là Lĩnh Nam Chích Quái Liệt Truyện, Lĩnh Nam Chích Quái, Lĩnh Nam Chích Quái Ngoại Truyện, Lĩnh Nam Chích Quái Khảo Chánh…
    May có lời Bạt của Đoàn Vĩnh Phúc đã giúp các học giả sau này có được một ít chứng cứ để nghiên cứu và tìm tòi truyền bản nào trong tất cả 11 truyền bản còn lại là gần nhất với nguyên tác.

    Nói chung, Lĩnh Nam Chích Quái làm một tập truyện cổ quan trọng, tập hợp nhiều truyện thần thoại, truyền thuyết với nội dung rất rộng, đề cập đến lịch sử, văn hóa và phong tục tập quán của Việt Nam, ghi lại những câu chuyện kể, những truyền thuyết dân gian ly kỳ, hấp dẫn về nhiều loại nhân vật, nhiều lĩnh vực và phạm vi của cuộc sống, hoặc giải thích nguồn gốc dân tộc (Truyện Hồng Bàng, Truyện Mộc Tinh…), hoặc kể sự tích các bậc anh hùng, các nhân vật tài giỏi (Truyện Phù Đổng Thiên Vương, Truyện Hai Bà Trưng…), hoặc giải thích phong tục tập quán (Truyện bánh chưng, Truyện trầu cau…), hoặc có liên quan đến các di tích văn hoá, lịch sử (Truyện Từ Đạo Hạnh, Truyện Thần Như Nguyệt…)… Lĩnh Nam Chích Quái về cơ bản là những ghi chép khá đơn giản về chân dung các nhân vật “phi thường”, “toàn vẹn”.
    Dù chứa đầy những yếu tố hoang đường, kỳ ảo, nhưng nó vẫn được xem là những chuyện “có thực”, là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam. Lĩnh Nam Chích Quái cũng như các bộ sách viết chữ Hán khác của Việt Nam, phần lớn còn nằm trong các thư viện chưa được xuất bản, hoặc là xuất bản lẻ tẻ. Nhà sách Khai Trí ở Sài gòn cũng như nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội, vào đầu năm 1960 cũng đã xuất bản bản dịch Việt của Lĩnh Nam Chích Quái.
    Hai cuốn sách này chỉ là hai cuốn sách dịch ra chữ Việt dựa trên một trong những truyền bản, chưa có sự hiệu đính, đối chiếu và tổng hợp với các truyền bản tương tự khác.

    Đầu năm 1991, Nhà xuất bản Trung Châu tỉnh Hà Nam, Trung Quốc đã xuất bản cuốn “Lĩnh Nam Chích Quái Đẳng Sử Liệu Tam Chủng” bằng chữ Hán do Đới Khả Lai ở khoa Lịch sử, trường Đại học Trịnh Châu chủ biên. Song đây cũng chỉ sử dụng một truyền bản sưu tầm được từ Thư Viện Société Asiatique, Paris.

    Cuối năm 1992, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, hợp tác với Viện Viện Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extreme Orient), Paris và Đại Học Chung Cheng, Taiwan, do Trần Khánh Hạo chủ biên và nhà sách Học Sinh Thư Cục ở Taipei ấn hành một bộ sách đồ sộ: “Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết tùng san”, gồm hơn 40 bộ sách cổ xưa của Việt Nam. Điều đáng tiếc là bản in chữ Hán Lĩnh Nam Chích Quái trong bộ tùng san này vẫn còn có nhiều thiếu sót trong phần hiệu đính. Tuy nhiên, cho đến lúc này, nó vẫn là bản chữ Hán tương đối phổ biến và đầy đủ nhất trong các bản in về Lĩnh Nam Chích Quái ra đời từ trước cho tới nay. Trong lần xuất bản này Lĩnh Nam Chích Quái được chọn lựa cẩn thận giữa các truyền bản, chọn ra một truyền bản thích hợp nhất, hiệu đính và cho ấn hành. Các học giả đã chọn truyền bản HV 486 của viện Sử Học làm bản chính và với 2 bản phụ khác, VHV 1473 và VHV 2914, của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, hiệu đính, so sánh và in thành sách xuất bản. Sách gồm 42 truyện chia thành 3 quyển:

    Quyển 1 gồm các truyện:

    Hồng Bàng thị truyện: Truyện họ Hồng Bàng kể về nguồn gốc dân tộc Việt Nam
    Ngư tinh truyện: Truyện Tinh Cá kể truyền thuyết Lạc Long Quân diệt Ngư tinh ở Biển Đông.
    Hồ Tinh truyện: Truyện Tinh con hồ ly và sự tích Hồ Tây.
    Mộc Tinh truyện: Truyện Tinh cây kể cây thành tinh và tục trừ tà của người Việt xưa
    Tân Lang truyện: Truyen trầu cau kể sự tích trầu cau và tục dùng cau trầu trong việc cưới hỏi
    Nhất Dạ Trạch truyện: Truyen Đầm Dạ Trạch, kể về sự tích Triệu Quang Phục và truyền thuyết Tiên Dung và Chử Đồng Tử
    Đổng Thiên Vương truyện: Truyền thuyết về Thánh Dóng
    Chưng Bính truyện: Truyện Bánh Chưng về truyền thuyết bánh chưng, bánh dày và con hiếu được truyền ngôi.
    Tây qua truyện: Truyện Dưa Hấu kể về tích Dưa hấu truyền vào Việt Nam.
    Bạch Trĩ truyện: Truyện chim Trĩ trắng và truyền thuyết về nước Việt Thường xưa.

    Quyển 2 gồm các truyện:
    Lý Ông Trọng truyện: Truyện kể sự tích Lý Ông Trọng thời Tần Thuỷ Hoàng
    Việt Tỉnh truyện: Truyện Giếng Việt, truyện kể Thôi Vy gặp tiên.
    Kim Quy truyện: Truyện Rùa Vàng kể về Loa thành và chuyện tình nghĩa, trung hiếu Trọng Thủy Mỵ Châu.
    Man Nương truyện: sự tích về Phật Mẫu Man nương.
    Tản Viên sơn truyện: Truyện thần núi Tản và chuyện Sơn tinh, Thủy tinh tranh giành nhau lấy Mỵ Nương.
    Long Nhãn Như Nguyệt nhị thần truyện: Truyện kể hai vị thần họ Trương giúp Lê Đại Hành đại phá quân Tống.
    Từ Đạo Hạnh Nguyễn Minh Không truyện: Truyện kể về cao tăng phò vua giúp nước là sư Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không thời triều vua Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông.
    Nam Chiếu truyện: Truyện Nam Chiếu kể sự tích con cháu của Triệu Đà chống chọi với quân phương Bắc.
    Tô Lịch giang truyện: Truyện sông Tô Lịch kể chuyện Cao Biền bị giết vì xúc phạm thần sông.
    Dương Không Lộ Nguyễn Giác Hải truyện: Truyện kể về thiền sư Không Lộ và Giác Hải thời Lý Thần Tông.
    Hà Ô Lôi truyện: Truyện kể Hà Ô Lôi vì tính háo sắc mà bị chết thảm
    Dạ Thoa vương truyện: Truyện kể vua Dạ Thoa háo sắc, đánh nước người để cướp vợ người khác. Vì thế bị giết và mất nước.

    Quyển 3 (tục biên) gồm các truyện: Sĩ Vương tiên truyện, Sóc Thiên Vương truyện, Kiền Hải môn tam vị phu nhân truyện, Long Độ vương khí truyện, Minh chủ Đồng Cổ truyện, Ứng thiên hóa dục hậu thổ thần truyện, Long trảo Khước lỗ truyện, Phùng Bố Cái Đại vương truyện, Trinh linh nhị Trưng truyện, Mỵ Ê trinh liệt truyện, Hồng Thánh đại thần vương truyện, Minh ứng An sở truyện, Đại Than Đô lỗ thạch thần truyện, Xung Thiên Chiêu ứng thần vương truyện, Khai thiên trấn quốc Đằng châu phúc thần truyện, Uy linh bạch hạc thần từ truyện, Thần Chu Long vương truyện, Ni sư Đức Hạnh truyện, Phạm Tử Hư truyện. Có thể nói sách “Lĩnh Nam Chích Quái” trong bộ “Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết tùng san” là bộ sách khá hoàn hảo được chọn lọc công phu góp phần giúp chúng ta có thêm điều kiện để nghiên cứu lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam ban đầu về mọi mặt.
    —————————
    Chú thích
    1. Chích “摭” nghĩa là “chọn”, “lựa chọn”, “nhặt lấy”. Lĩnh Nam Chích Quái (嶺南摭怪) là “Lựa chọn những chuyện quái dị ở Lĩnh Nam” (嶺南). Lĩnh Nam là vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh, đất các dân tộc Việt cư ngụ, trong truyền thuyết xưa ở Việt Nam và Trung Quốc.
    2. Trần Thế Pháp: Không rõ năm sinh, năm mất, hiệu là Thức Chi, người làng Thạch Thất, nay thuộc tỉnh Sơn Tây.
    3. Vũ Quỳnh (1452-1516) tự Thủ Bộc, hiệu Trạch Ổ, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An. Làm quan tới chức Thượng Thư ở các bộ Công, bộ Lại và bộ Binh, kiêm Tư nghiệp ở Quốc Tử Giám, Sử Quán Tổng tài. Ngoài việc hiệu đính và tu sửa Lĩnh Nam Chích Quái, còn biên soạn Việt Giám Thông Khảo, Hỏa Thành Toán Pháp.
    4. Kiều Phú (1446- ?), tự Hiếu Lễ, hiệu Ninh Sơn, người làng Lạp Hạ, huyện Ninh Sơn sau đổi là Yên Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nay là xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Năm Ất Mùi 1475, ông đỗ nhị giáp tiến sĩ, lúc 29 tuổi làm đến Tham chính, nổi tiếng văn thơ đương thời.
    5. Đoàn Vĩnh Phúc: Không rõ năm sinh, năm mất. Theo bài Hậu bạt đề năm Quang Bảo sơ niên (1554) ở một số bản Lĩnh Nam Chích Quái, ông làm việc ở cục Tú lâm thuộc Viện Hàn lâm đời nhà Mạc.
    Tham khảo:

    “Lĩnh Nam Chích Quái”, Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, Pháp Quốc Viễn Đông Học Viện xuất bản, Học Sinh Thư Cục ấn hành, Taipei, Taiwan, 1992
    “Lĩnh Nam Chích Quái Đẳng Sử Liệu Tam Chủng”, Nhà xuất bản Trung Châu, Hà Nam, Trung Quốc, 1991
    “Lĩnh Nam Chích Quái”, Đinh Gia Khánh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1960

    4. “Lĩnh Nam Chích Quái”, Lê Hữu Mục, Nhà sách Khai Trí, Sàigòn, 1960
    5. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, Chen Chinh Ho, Tokyo University, 1984
    Lời tựa – Lĩnh Nam chích quái liệt truyện của Vũ Quỳnh
    Quế Hải (1) tuy ở cõi Lĩnh Ngoại, nhưng núi non kỳ vỹ, địa linh, nhân kiệt, vật lạ thường thường vẫn có. Từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc, cách thời thái cổ không xa, phong tục nước Nam còn đơn sơ, chưa có sử sách để ghi chép, nên nhiều chuyện bị lãng quên, mất mát. Riêng còn truyện nào không bị thất lạc thì may được dân gian truyền miệng. Đến các đời Tây Hán, Đông Hán, Đông Tây Tấn, Nam Bắc triều, rồi đến Đường, Tống, Nguyên mới có sử ghi chép các truyện như Lĩnh Nam Chí, Giao Quảng Chí, An Nam Chí Lược, Giao Chỉ Chí Lược v.v… mới có thể tham khảo rõ ràng được. Nhưng nước Việt ta từ xưa vốn là nơi hoang dã cho nên việc ghi chép còn sơ lược.
    Nước ta lập quốc từ thời Hùng Vương, dần dần khai hóa, văn minh mới có từ các đời Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần đến nay đã lan đến khắp nơi, cho nên việc ghi chép quốc sử được tường tận hơn. Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng? Bắt đầu có từ thời nào? Tên họ người viết là ai đều không thấy ghi rõ. Viết ra đầu tiên là những bậc tài cao học rộng ở đời Lý, Trần. Còn những người hiệu đính, tu bổ các bậc quân tử uyên bác, hiếu cổ ngày nay.

    Kẻ ngu này xin đem ngọn nguồn ra mà suy xét lại cho sáng tỏ ý người viết truyện. Như truyện họ Hồng Bàng thì nói rõ việc khai sinh ra nước Việt ta. Truyện Dạ Thoa lược thuật về thời manh nha của nước Chiêm Thành. Truyện Bạch trĩ thì chép chuyện về nước Việt Thường. Còn truyện Rùa Vàng chép sử An Dương Vương. Về phong tục Đồ sính lễ thì không có gì quý bằng trầu cau, lấy đó mà biểu dương nghĩa vợ chồng, tình huynh đệ. Về mùa hạ nước Việt ta không có gì quý bằng quả dưa hấu, cũng dùng để kể truyện cậy vật báu của mình, quên cả ơn chủ. Truyện Bánh Chưng khen lòng hiếu với cha mẹ. Truyện Hà Ô Lôi răn thói dâm ô. Đổng Thiên Vương phá giặc Ân, Lý Ông Trọng diệt Hung Nô, đủ biết nước Nam ta có người tài giỏi. Chử Đồng Tử kết duyên cùng Tiên Dung. Thôi Vỹ tao gặp gỡ bạn tiên, đủ biết làm việc nghĩa thì âm đức có thể thấy vậy. Những truyện Đạo Hạnh, Không Lộ khen việc báo được thù cha, các vị thần tăng ấy há có thể mai một hay sao? Những truyện Ngư Tinh, Hồ Tinh nêu rõ diệt trừ yêu quái mà ơn đức Long Quân không thể quên được vậy!

    Hai linh thần họ Trương chết thành thần minh, treo cờ mà biểu dương, ai dám nói không được? Anh linh thần núi Tản Viên trừ được loài thuỷ tộc, nêu lên cho hiển hách, ai lại bảo không phải? Than ôi! Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế, nước mất lại biết phục thù; Man Nương là mẹ Mộc Phật, năm hạn làm được mưa dầm; Tô Lịch là thần đất Long Đỗ, Xương Cuồng là thân cây chiên đàn, một đằng thì lập đàn tế lễ, dân được hưởng phúc, một đằng thì dùng kỳ thuật mà trừ cho dân được thoát hoạ.Việc tuy kỳ lạ mà không quái đản, người thì hơi kỳ dị nhưng không đến nỗi là yêu quái. Truyện kể tuy có phần hoang đường mà tông tích vẫn có phần là bằng cứ, há chẳng phải chỉ cốt khuyên điều thiện, răn điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục mà thôi ư? So với sách “Sưu Thần Ký” đời Tấn, sách “Địa Quái Lục” đời Đường thì cũng giống nhau vậy.
    Ôi! Truyện lạ đất Lĩnh Nam thật là nhiều, không đợi khắc vào đá, viết vào tre mà đã khắc sâu vào bia miệng, vào lòng người? Từ đứa bé hôi sữa đến cụ già tóc bạc đều làu thông, đều yêu thích, lấy đó để noi gương thì tất là phải có liên quan đến cương thường, phong tục tập quán. Đâu có phải là những chuyện nhỏ bé tầm thường được.
    Mùa xuân năm Nhâm Tý, niên hiệu Hồng Đức, kẻ ngu này mới biết được sách này, ôm lấy mà đọc, không tránh khỏi chữ nọ nhầm chữ kia. Thế là quên mình dốt nát, đem ra hiệu chính, xếp thành hai quyển, đặt tên là “Lĩnh Nam Chích Quái liệt truyện”, cất ở trong nhà để tiện việc thưởng lãm. Còn như việc khảo chính, nhuận sắc, làm cho văn hay, lời đẹp, ý sâu thì chư vị quân tử hiếu cổ sau này há không có ai hay sao? Cho nên viết bài tựa này.

    Giữa mùa thu năm thứ 23, đời Hồng Đức (2)

    Vũ Quỳnh

    Giám Sát Ngự Sử đạo Kinh Bắc, Tiến Sĩ khoa Mậu Tuất, hiệu Trạch Ổ, Yến Ôn, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, Hồng châu.

    —————————

    Chú thích

    1. Quế là tên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Quế Hải theo nghĩa rộng là vùng đất bao gồm Quảng tây, tức chỉ gồm cả nước ta.

    2. Tức năm 1492 đời vua Lê Thánh Tông

    Lời Bạt (tựa cuối sách) – Lĩnh Nam chích quái liệt truyện của Kiều Phú

    Ngu ý cho rằng việc thường thấy thì chép trong Kinh, Sử để lưu lại ở đời, việc kỳ quái thì chép thành Truyện, Ký để rõ chuyện lạ. Cho nên việc các đời Ngu, Hạ, Thương, Chu thì chép vào Kinh, việc các đời Hán, Đường, Tống, Nguyên thì ghi rõ ở Sử. Còn các chuyện như “Ông già bơi sông”, “Đuôi rồng vạch đất”, “Gõ hát trong làng”, “Chim sẻ ngậm sách đỏ” thì có Truyện để bù vào chỗ thiếu. Các sách Vũ Đế nội truyện đời Hán, Thiên Bảo dật sự đời Đường, Triều dã thiêm tái đời Tống cũng không gì khác hơn là góp nhặt chuyện lạ các đời để tiện xem đó chăng.

    Nước Việt ta từ thời loạn Mười hai Sứ quân về trước, tuy sử liệu không đủ rõ để khảo chứng, nhưng sự tích của nước nhà vẫn có thể xem ở Thốc Thủy Thông giám và sử sách thuộc các triều. Còn như sông núi linh thiêng, nhân vật lạ kỳ thì tuy sử bút không chép, nhưng bia miệng không ngoa. Người bậc học rộng đời sau gom góp lại, biên thành truyện được bấy nhiêu thiên, thu thập những mẫu chuyện vụn vặt, linh tinh để bổ sung vào những chưa đầy đủ. Trong những việc kỳ quái đó, vẫn có những điều hệ trọng.

    Ôi ! Đã có chuyện trời sai huyền điểu xuống thế mà sinh ra nhà Thương, thì chuyện trăm trứng nở ra trăm con để chia trị nước Nam, chuyện Hồng Bàng không thể mất được. Thà làm đầu gà còn hơn đuôi trâu, cho nên chuyện con cháu họ Triệu chống cự với Bắc triều thì chuyện Nam Chiếu không thể bỏ sót. Sông nước vây quanh mà rồng xanh hội tụ, chép lại chuyện sông Tô Lịch há chẳng phải làm đẹp cho phong cảnh kinh đô ư? Chiến thắng xong mà lơ là lẫy nỏ, ghi chép về thần Kim Quy chẳng phải là để chê trách An Dương Vương quên lãng mối nguy sao? Trừ hại cho dân thì những chuyện Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh đã ghi rõ sự việc. Trọn bề tôi thì các chuyện Bánh chưng, Long nhãn, Bạch trĩ đã chép tỏ tường. Phù Đổng Thiên Vương, Lý Ông Trọng nổi danh đánh giặc giữ nước mà được hiển thần. Dưa hấu, Cây cau được biết vì thêm vật lợi dân. Đầm Dạ trạch, Việt Tỉnh cương, làm điều thiện thì dương làm âm báo, cốt để răn đời. Hà Ô Lôi, Dạ Xoa Vương hiếu dâm, hại thân, mất nước là để khuyên răn. Còn như các chuyện Thánh núi Tản Viên ngăn tai ngừa họa, bà Man Nương cầu mưa ứng nghiệm. Từ Đạo Hạnh phục thù cho cha, Nguyễn Minh Không trị bệnh cho vua, Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải có phép bắt rồng xuống đất, bắt tắc kè phải rơi, ai cũng khâm phục phép thuật diệu kỳ. Sự việc tuy không bình thường, nhưng truyền thuyết thì gắn liền với di tích, nêu lên há chẳng phải hay sao. Nhưng nói Thần Tản Viên là con trai của Âu Cơ, Đổng Thiên Vương là Long Quân tái thế, Lý Ông Trọng giả vờ đi tả mà chết, trộm nghĩ không phải là như vậy. Truyện xưa cho là Y Doãn do việc bếp núc giỏi mà gặp vua Thang, Bách Lý Hề chăn trâu mà cầu gặp Tần Mục Công. Nếu không nhờ Mạnh Tử ra sức biện minh, thì hai ông này cuối cùng vẫn chịu tiếng nhơ đó sao? Tản Viên là thần hạo khí, Đổng Thiên Vương là tướng trời sai xuống, Lý Ông Trọng là bậc hào kiệt một thời, đâu có như việc ghi trong truyện được.

    Cho nên ngu tôi dựa vào sách khác, ghi thêm ý mình, sửa lại cho đúng, biện chính những lầm lẫn thuở trước để khỏi bị đời sau chê cười, lại bớt chỗ rườm rà, theo chỗ ngắn gọn cốt để tiện xem. Mong các bậc bác nhã quân tử hãy lượng thứ cho.

    Năm Quí Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1).

    Ninh Sơn Kiều Phú, tự Hiếu Lễ, Tiến sĩ Khoa Ất Mùi, nguyên Giám sát Ngự sử đạo Kinh Bắc kính chép.

    —————————

    Chú thích

    1. Tức năm 1493 đời vua Lê Thánh Tông

    Lời Hậu Bạt (bạt cuối sách) – Lĩnh Nam chích quái liệt truyện quyển 3 (tục loại) của Đoàn Vĩnh Phúc

    Các sách xưa như Nam Truyện Ký, Thế Thuyết, Dã Lục, Chí Dị, Tạp Biên… được yêu chuộng cũng bởi vì ghi lại các chuyện quái dị xa gần, xưa nay, để làm vui cho thiên hạ.

    Nước Đại Việt ta, non sông gấm vóc, thường xưng là nước có văn hiến. Vậy thì sự tích của các anh hùng hào kiệt, các chuyện kỳ bí lạ lùng của sự việc xảy ra, há chẳng có sách truyện ghi chép lại hay sao?

    Nay xem sách Lĩnh Nam liệt truyện không thấy ghi tên tác giả, không biết do nho sinh thời nào khởi thảo. Bản hiện hành là của ông Trạch Ổ họ Vũ, là người làng Mộ Trạch, một kẻ sĩ thời Hồng Đức vang danh khoa hoạn, bác học hiếu cổ. Sách gồm 2 quyển, tất cả có 22 truyện, xếp theo thứ tự bắt đầu từ truyện Hồng Bàng và chấm dứt ở truyện Dạ Xoa. Đúng là sách hay, đáng được liệt vào hạng nhất nhì trong loại Truyện Ký. Đáng tiếc là vì còn thiếu sót các truyện như Sĩ Nhiếp, Rồng đá, thần Bạch Hạc v.v chưa được biên soạn thêm vào. Ngu sinh xong việc công, rỗi rảnh đem sách ra đọc thấy được cái đẹp của thánh hiền, cái gấm vóc của non sông, chuyện anh hùng, trinh liệt của hai Bà Trưng, sự linh ứng của thần Kiền Hải, cùng với các chuyện khuyên người, dạy đời khác nữa. Vì thế, ngu sinh mới xét lại sách “Triệu Công Sử Ký”, tham khảo “Việt Điện U Linh”, biên soạn bổ sung, bỏ bớt chỗ rườm rà, làm cho ngắn gọn, viết thành quyển mới, cho vào phần gọi là Tục biên, để tiện bề thưởng lãm. Còn việc khảo sát, hiệu chính thì chờ mong ở các bậc tài cao học rộng vậy.

    Thuốc trường sinh luyện một mạch, dưới đất thì non tiên, đầm sâu, trên trời thì sao phúc, mây lành, há chẳng phải là động tiên còn đó hay sao. Huống chi người là vạn vật chi linh, không tin những chuyện thần bí sao được, như chuyện Bùi Hàng, Biệt Dị thời Tống thì cũng giống như vậy mà thôi. Đừng vì Khổng Tử không dạy mà cười chê.

    Xưa, họ Hồ bận việc vua mà còn viết nên Dịch Truyện, sắp xếp thành sách, khỏi để lãng phí thời giờ. Ngu tôi học theo như vậy mà soạn tập “Tục Biên” này, viết nên lời Bạt để tóm tắt nội dung.

    Nho sinh Đoàn Vĩnh Phúc

    Ngày 20, tháng 8, đầu năm Quang Bảo (1) ở Cục Tú Lâm thuộc Viện Hàm Lâm

    —————————

    Chú thích:

    1. Quang Bảo là niên hiệu của Mạc Phúc Nguyên

    (Nguyễn Hữu Vinh)


    Truyện họ Hồng Bàng

    Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

    Long Quân dạy dân việc cày cấy, cơm ăn áo mặc, đặt ra các cấp quân, thần, tôn, ti, các đạo cha con, vợ chồng. Đôi khi trở về thủy phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô sự. Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ơi! sao không lại cứu chúng con” (Người Việt xưng Phụ là Cha hoặc là Bố (1), xưng Quân Vương là Vua (2)) thì Long Quân tới ngay. Sự linh hiển của Long Quân, người đời không ai lường nổi.

    Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai. Vì nhớ đến chuyện ông tổ Đế Minh du hành phương Nam gặp tiên nữ, nên Đế Lai nhân khi phương Bắc thiên hạ thái bình bèn sai quần thần là bọn Xi Vưu thay mình trông coi việc nước, rồi đi tuần xuống nước phía nam đến nước Xích Quỷ. Khi đó, Long Quân đã về thủy phủ, trong nước không có vua. Đế Lai bèn để ái thiếp là Âu Cơ và các thị tỳ ở lại nơi hành cung rồi đi chu du thiên hạ, ngắm xem các nơi danh lam thắng cảnh. Thấy hoa kỳ cỏ lạ, trân cầm dị thú, voi, tê, đồi mồi, ngọc ngà, vàng bạc, quế, tiêu, hương, trầm, đàn cùng các sơn hào hải vật không thiếu thứ gì, khí hậu bốn mùa không lạnh không nóng, Đế Lai vui thích mà quên trở về. Dân phương Nam khốn khổ vì bị quấy nhiễu, không được yên sống như xưa, nên ngày đêm mong mỏi Long Quân trở về. Thế nên cùng nhau gọi lớn: “Bố ơi, bố ở đâu mau về cứu chúng con”. Long Quân đột nhiên trở về, thấy Âu Cơ sống một mình, có dung mạo đẹp đẽ lạ thường, trong lòng vui mừng, bèn hóa thành một trang thiếu niên khôi ngô tuấn tú, tả hữu kẻ hầu người hạ đông đúc, vừa đi vừa ca hát đánh trống trước hành cung Âu Cơ ở. Âu Cơ thấy vậy, sinh lòng ưa thích. Long Quân đón Ấu Cơ ở Long Trang Nham. Đế Lai trở về, không thấy Âu Cơ, sai quần thần đi tìm khắp thiên hạ. Long Quân có phép thần thông, biến hóa thành trăm hình vạn trạng, yêu tinh, quỷ sứ, rồng, rắn, hổ, voi… làm cho bọn đi tìm Âu Cơ đều sợ hãi không dám sục sạo, Đế Lai bèn phải trở về phương Bắc. Truyền ngôi đến đời Du Võng, đánh nhau với Hoàng Đế ở đất Bản Tuyền, đánh không nổi mà chết (3). Đời Thần Nông tới đây thì hết. Long Quân lấy Âu Cơ, trong năm sinh ra một bọc trứng, cho là điềm bất thường, vứt ra ngoài đồng; qua bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi. Không cần phải bú mớm, các con tự lớn lên, người nào cũng trí dũng song toàn, ai ai cũng nể phục, đều cho là những kẻ phi thường. Long Quân ở lâu dưới thủy phủ, vợ con sống một mình, nay muốn về đất Bắc. Âu Cơ về tới biên giới, Hoàng Đế nghe nói rất sợ hãi cho binh ra giữ cửa ải, mẹ con Âu Cơ không thể về Bắc được, nên ngày đêm lớn tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ở nơi nào mà để mẹ con tôi buồn khổ thế này”. Long Quân bỗng trở về, gặp nhau ở đất Tương Dã. Âu Cơ khóc mà nói rằng: “Thiếp vốn là người phương Bắc, nay ở với vua, sinh được trăm trai. Xin vua đừng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi con, để vợ con phải làm người không chồng, không cha, thật là đáng thương”. Long Quân nói: “Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng giòng giống khác nhau, thủy hỏa tương khắc, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia tay. Ta đem năm mươi trai về thủy phủ chia trị các xứ, nàng đưa năm mươi trai về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên”. Trăm con vâng lời, sau đó từ biệt mà đi.

    Âu Cơ và năm mươi con về ở đất Phong Hiệp (Nay là huyện Bạch Hạc), cùng nhau tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động Đình hồ, nam tới nước Hồ Tôn (nay là Chiêm Thành). Chia nước ra làm 15 bộ là Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải (nay là Nam Ninh), Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Y Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Quế Lâm và Tượng Quận. Sai các em cùng nhau chia trị các nơi đó. Lại đặt các em làm tướng văn, tướng võ, văn là Lạc Hầu, võ là Lạc Tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan gọi là Bố Chính, nô bộc gọi là Trâu, con ở gái gọi là Tinh. Bề tôi của vua gọi là Côi, đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ Đạo, đều xưng là Hùng Vương, không hề thay đổi. Lúc ấy, dân sống ở ven rừng, xuống nước thường bị giống giao long làm hại, bèn nói với vua. Vua nói rằng: “Giống sơn man và giống thủy tộc khác nhau, nên xâm phạm lẫn nhau”. Bèn khiến người đời lấy mực xăm vào mình theo hình loài thủy tộc. Từ đó, dân không bị họa giao long làm hại nữa. Tục xăm mình của dân Bách Việt cũng bắt đầu từ đó. Lúc đất nước còn sơ khai, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy bả cơm làm rượu; lấy cây cau, cây cọ làm đồ ăn; lấy cầm thú, cá, tôm làm mắm; lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng bằng lửa. Đất trồng được nhiều gạo nếp, dùng ống tre để thổi cơm ăn. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ vào rừng. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh để người lân cận nghe tiếng đến cứu. Việc cưới hỏi giữa nam nữ trước lấy gói muối làm lễ vật đi hỏi, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để vào phòng cùng ăn, rồi mới thành thân. Đây là lúc chưa có trầu cau.

    Trăm người con trai chính là tổ tiên của người Bách Việt vậy.
    —————————

    Chú thích:
    1. Cha: chữ Nôm viết là 吒, Bố: chữ Nôm viết là 布
    2. Vua: chữ Nôm viết là (Trên 王 dưới 布)
    3. Lĩnh Nam Chích Quái, bản VHV 1473 có thêm đoạn sau: Lúc đó Xi Vưu ở phương Bắclàm loạn. Vua nước Hữu Hùng là Hiên Viên Hoàng Đế đem chư hầu tới đánh nhưng không được. Xi Vưu mình thú mặt người, sức khỏe dũng mãnh. Có người dạy Hoàng Đế dùng trống da thú làm lệnh, Xi Vưu sợ hãi chạy về đất Trác Lộc. Hoàng Đế chiếm được nước, lên làm vua. Đế Lai nghe biết bèn trở về phương Bắc đánh với Hoàng Đế 3 lần, đều thua, bị giáng phong ở đất Lạc Ấp. Đời Thần Nông tới đây thì hết.

    Nguyễn Hữu Vinh dich


    Bình – TĐH

    • Huyền thoại Hồng Bàng, cho thấy một cuộc đấu tranh kịch liệt , và kết quả cuối cùng là trộn lẫn, giữa hai nền văn hóa phụ hệ và mẫu hệ.

    Phụ hệ là văn hóa bắc phương, với Thần Nông, Đế Minh, Lộc Tục (Kinh Dương Vương).

    Mẫu hệ là văn hóa phương nam với Vụ Tiên, Long Nữ, Âu Cơ…

    Lĩnh Nam theo truyền thuyết là vùng Nam sông Dương Tử–Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Bắc Việt ngày nay–nơi người Hán gọi các dân tộc ở đó là Việt, tức là “vượt qua” (sông Dương Tử). Vào thời cổ đại, văn minh Trung Quốc phát triển ở châu thồ sông Hoàng Hà ở bắc Trung quốc, xuống nam đến mạn bắc sông Dương Tử. Qua sông, miền nam sông Dương Tử — vùng Lĩnh Nam — là một nền là văn minh khác, của các dân tộc Việt.

    Phụ hệ xem ra thắng thế trên văn từ: Dòng bố là dòng chính của “cây gia phả” của “người”. Và sinh ra 100 con trai, chẳng có thị mẹt nào cả. Dòng mẹ gồm “tiên” (Vụ Tiên, Âu Cơ), “rồng” (Long Nữ) và “nước” (Động Đình Hồ).

    Nhưng phụ hệ chỉ thắng về mặt nổi. Về mặt chìm thì, mẫu hệ xem ra thắng thế:

    1. Âu Cơ có hai chồng, là hai anh em họ Đế Lai và Sùng Lãm, gần giống như tục nối dây hiện nay vẫn còn tồn tại với các một số dân tộc thiểu số Việt Nam vẫn theo chế độ mẫu hệ.

    2. Sùng Lãm Lạc Long Quân xem ra có máu miền nam (mẹ và nước) nhiều hơn văn hóa bắc phương: Ông nội Đế Minh lấy vợ phương nam (con gái Vụ Tiên), sinh ra Lộc Tục Kinh Dương Vương. Lộc Tục lại lấy Long Nữ của Động Đình Hồ ở phía nam, sinh ra Sùng Lãm Lạc Long Quân.

    3. Rốt cuộc, 50 con theo Lạc Long Quân về biển, biến mất trong lịch sử. 50 người con thành lập lịch sử Việt sau này là 50 đứa theo mẹ.

    4. Người Việt nói “Ta là con cháu Rồng Tiên.” Nhưng bố rồng này lại là rồng từ họ ngoại của bố, rồng từ Long Nữ của Động Đình Hồ. Cho nên cả hai cha mẹ (rồng tiên) đều là lấy họ ngoại là chính.

    Đây xem ra vẫn là văn hóa Việt Nam ngày nay. Ra đường chồng chúa vợ tôi, về nhà vợ nắm hết thôi cũng huề.

    • Long nữ, Lạc Long Quân, Động Đình Hồ: Văn hóa “nước” (từ các dòng bên ngoại) quan trọng cho người Việt đến nỗi từ “nước”, quan trọng nhất cho sự sống con người, cũng dùng cho quốc gia, quê hương, tổ quốc: Nước Việt, làng nước, non nước…

    • Chúng ta nói “Mẹ Việt Nam”. Chẳng nghe ai nói Bố Việt Nam cả.

    • Vật biểu Rồng Tiên của văn hóa Việt có sự quân bình nam nữ, âm dương, khác với nhiều nền văn hóa khác, chỉ có một. Giáo sư Kim Định viết trong Kinh Hùng Khải Triết:

    Nếu có một ai chịu đưa mắt nhìn rộng ra năm châu, rồi nhìn sâu vào thời cổ đại sẽ thấy không một nước nào trên thế giới có vật biểu đi đôi như thế mà tất cả chỉ là một:
    Ấn Ðộ là con voi.
    Nước Pháp là con gà.
    Nước Ðức là con chim ưng.
    Nước Anh là con sư tử.
    Nước Tàu trước hổ sau rồng.
    Riêng nước Việt lại nhận cả đôi, cả tiên lẫn rồng.

    Nam nữ, âm dương cân xứng đương nhiên là quân bằng, hài hòa, và hợp tự nhiên hơn các nền văn hóa chỉ có một—phải bỏ hết tất cả, để giữ một còn lại.

    • Bọc trứng vất ở ngoài đồng 7 ngày mới nở ra trăm con: Đây là biểu tượng của linh khí của trời đất trong 7 ngày. Tức là người Việt có cả ba yếu tố trong mình: Người, trời và đất.

    • Cánh đồng là biểu tượng của đất, của ruộng đồng—Mối liên hệ chặt chẽ giữa con người và mảnh đất quê hương.

    Cánh đồng của nhà Nông còn là biểu tượng của liên hệ đến tổ Thần Nông, người sáng tạo ra cách trồng trọt.

    • Một trăm con một bọc, nhấn mạnh ý nghĩa “đồng bào”, và còn nhấn mạnh tính “bình đẳng.” Mọi người ngang nhau vì trong 100 người chẳng có ai là anh ai là em cả.

    • Xem ra các con số dương, biều hiệu cho sự phát triển, được cố tình sử dụng: Đế Minh là cháu 3 đời của Thần Nông, đến Lạc Long Quân là cháu 5 đời của Thần Nông, và bọc trứng được nằm ngoài đồng (của nhà Nông) 7 ngày.

    • Số một trăm là ‎ ý chỉ số nhiều, số đông: Trăm họ, sống lâu trăm tuổi, trăm năm hạnh phúc, trăm phương nghìn kế, trăm hoa đua nở…

    • Giáo sư Kim Định nói về hai chữ “Văn Lang”:

    1. Chữ Văn theo nghĩa cổ là vẽ mình quen gọi là “Văn Thân”. Rồi từ đó có nghĩa là văn vẻ: thân mình được vẽ là thân có văn vẻ. Sau cùng đạt tới nghĩa bao quát chỉ tất cả những gì có văn vẻ. Văn Lang là nước có văn vẻ ngược với nước bị cai trị theo lối thú vật bằng gậy, bằng chuồng thì gọi là võ trị. Chỉ có văn trị mới làm nảy sinh được các mối nhân luân, những mối liên hệ người với người được thấm nhuần bằng lễ, nghĩa, liêm, sỉ, tức những mối tình cao cả của con người.

    2. Về chữ Lang xét như bởi chữ làng thì có nghĩa là làng nước. Văn Lang là nước có văn vẻ; còn xét theo âm chữ Nho thì Lang có nghĩa là người, ta quen gọi bằng lang quân.

    • Phần kể các tục lệ của dân nước Văn Lang, có vẻ như là tục lệ của các dân tộc thiểu số vùng cao ngày nay, vẫn còn theo mẫu hệ:

    Lúc đất nước còn sơ khai, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy bả cơm làm rượu; lấy cây cau, cây cọ làm đồ ăn; lấy cầm thú, cá, tôm làm mắm; lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng bằng lửa. Đất trồng được nhiều gạo nếp, dùng ống tre để thổi cơm ăn. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ vào rừng. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh để người lân cận nghe tiếng đến cứu. Việc cưới hỏi giữa nam nữ trước lấy gói muối làm lễ vật đi hỏi, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để vào phòng cùng ăn, rồi mới thành thân.

    Chỉ có dân vùng cao mới lấy vỏ cây làm áo, cỏ tranh làm chiếu, rễ gừng làm muối và quý muối như vàng, đốt rừng để trồng trọt–trồng bằng lửa, ăn nếp thay gạo, thổi cơm trong ống tre, làm nhà tránh hổ sói nghe như nhà sàn, cắt tóc ngắn (khi xưa người Kinh để tóc dài), đẻ con lót lên lá chuối, dùng muối làm lễ vật đính hôn, và giết trâu hành lễ–người vùng xuôi có lẽ là giết bò hơn là trâu…

    • Tóm lại, truyện họ Hồng Bàng là trộn lẫn và đấu tranh giữa hai nền văn hóa nam (mẫu hệ) và bắc (phụ hệ). Dù là các điểm lớn như đàn ông làm vua là văn hóa bắc (phụ hệ), nhưng đa số các chi tiết khác là của văn hóa miền nam (mẫu hệ) với khá nhiều chi tiết phong tục vẫn còn tồn tại trong các dân tộc thiểu số mẫu hệ miền cao ngày nay.

    Trần Đình Hoành bình

    Truyện Bánh Chưng Bánh Dày



    Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”.

    Các công tử đua nhau đi tìm các vị trân kỳ, hoặc săn bắn, chài lưới, hoặc đổi chác, đều là của ngon vật lạ, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Duy có công tử thứ mười tám tên là Lang Liêu, mẹ hàn vi, đã bị bệnh qua đời rồi, trong nhà lại ít người nên khó bề toan tính, ngày đêm lo lắng, ăn ngủ không yên. Chợt nằm mơ thấy thần nhân bảo rằng: “Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là vật để nuôi dân khỏe mạnh, ăn mãi không chán, không có vật gì hơn được. Nếu giã gạo nếp gói thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông để tượng trưng cho Đất, ở trong làm nhân ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý công ơn dưỡng dục của cha mẹ, như thế thì lòng cha sẽ vui, nhà ngươi chắc được ngôi quý”. Lang Liêu giật mình tỉnh dậy, vui mừng nghĩ rằng “Thần minh giúp ta, ta nên bắt chước theo mà làm”. Lang Liêu bèn lựa nếp hạt trắng tinh, không sứt mẻ, đem vo cho sạch, rồi lấy lá xanh gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu chín tượng trưng cho Đất, gọi là bánh chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho nhuyễn, nhào thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, gọi là bánh dày.

    Đúng kỳ hẹn, Vua hội họp các con lại trưng bày phẩm vật. Các con đem dâng không thiếu thứ gì, duy chỉ có Lang Liêu đem bánh hình tròn, bánh hình vuông đến dâng. Hùng Vương lấy làm lạ hỏi Lang Liêu, Lang Liêu trình bày như lời thần nhân đã bảo. Vua nếm thử thì thấy vị ngon vừa miệng ăn không chán, phẩm vật của các công tử khác không làm sao hơn được. Vua khen ngợi hồi lâu, rồi cho Lang Liêu được giải nhất. Vua dùng thứ bánh ấy để cung phụng cha mẹ trong các dịp lễ tết cuối năm. Thiên hạ mọi người đều bắt chước theo. Tục này còn truyền cho đến bây giờ, lấy tên của Lang Liêu, gọi là Tết Liệu. Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liêu; hai mươi mốt anh em kia đều chia nhau giữ các phiên trấn, lập làm bộ đảng, trấn thủ những nơi núi non hiểm trở.

    Về sau, anh em tranh giành lẫn nhau, mỗi người dựng “mộc sách” (hàng rào cây bằng gỗ) để che kín, phòng vệ. Vì thế, mới gọi là Sách, hay là Trại, là Trang, là Phường. Sách, hay Trại, Trang, Phưòng bắt đầu có từ đây vậy.

    (Nguyễn Hữu Vinh dịch)


    Bình


    • Vua Hùng phá giặc Ân là Hùng Vương thứ 3 trong truyện Phù Đổng Thiên Vương. 3 là số thiếu dương, dương đang bắt đầu lên mạnh.
    Lang Liêu là quan lang thứ 18. 18 là 2 lần 9, 2 lần con số thái dương, có nghĩa là cực lớn, cực thịnh. • Cha trời mẹ đất. Trời tròn đất vuông. Truyện nói đến công ơn cha mẹ.

    • Nhưng nghĩa sâu xa hơn nữa là “Cha mẹ của vạn vật”. Đó là âm dương. Trời là dương, đất là âm.

    Âm dương tương sinh tương hành tạo ra toàn thể vũ trụ. Âm dương không phải là hai vật gì hay hai thứ gì, mà chỉ là biểu tượng của “cặp đối nghịch”–sáng tối, đêm ngày, đàn ông đàn bà, lửa nước, nóng lạnh….

    Vũ trụ biến hóa thay đổi do âm dương ức chế lẫn nhau, giúp đỡ nhau, ảnh hưởng nhau, nương tựa nhau, và thúc đẩy nhau.

    Triết l‎ý âm dương chi phối toàn diện văn học, nghệ thuật, y học, triết lý, chính trị, tôn giáo thời cổ đại, và vẫn rất mạnh trong nhiều lãnh vực ngày nay, như y học cổ truyền.

    Âm dương là nền tảng của toàn thể vũ trụ, toàn thể đời sống cá nhân, toàn thể đời sống gia đình, toàn thể đời sống quốc gia.

    Lang Liêu nói đến “Âm Dương chi vị đạo”—âm dương chính là đạo. Chính vì thế mà Lang Liêu được nối ngôi.

    • Trời (bánh dầy) không có nhân, đất (bánh chưng) có nhân. Nghĩa là từ trong lòng đất sản sinh ra mọi loài cỏ cây, muông thú, con người…

    Mẹ mang con trong lòng mẹ, con từ lòng mẹ mà ra.

    • Đất là “địa”. Người Việt ta có từ “tâm địa” để chỉ tâm con người—người có tâm địa đen tối hay tâm địa tốt.

    Gọi “tâm” là “tâm địa” vì tâm là mẹ của tất cả, tất cả từ tâm mà ra. Kinh Pháp Cú mở đầu: “Tâm dẫn đầu các pháp; tâm làm chủ, tâm tạo.”

    Trong phẩm Tùng Địa Dũng Xuất của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhiều Bồ Tát vàng nhảy từ dưới lòng đất lên nghe Đức Phật giảng kinh, đó cũng là ý nói Bồ Tát là từ tâm ta mà ra.

    • Bánh dầy thì không gói lá, nhưng bánh chưng thì gói lá chuối. Cây chuối từ lòng đất mà ra, lá chuối lại bọc bánh chưng—mẹ đất. Nghĩa là mẹ sinh con, con lại ấp ủ mẹ. Tình mẫu tử thiết tha, mặn nồng.

    Đây rất phù hợp với văn hóa mẹ của người Việt. Mẹ Việt Nam.

    • Mặc dầu là truyện nói về bánh dầy bánh chưng, nhưng các phiên bản truyện đều ghi tên truyện là “Truyện Bánh Chưng”, chỉ chú trọng đến mẹ.

    • Điểm quan trọng nhất trong truyện, và ít được đề cập đến nhất, là hệ thống chính trị dựa trên khả năng (meritocracy).

    Thường thì mọi nơi trong các chế độ phụ hệ, kể cả Việt Nam thời quân chủ, người con trai trưởng đương nhiên kế vị vua cha. Nếu vua phế trưởng lập thứ là quốc gia có thể sinh biến loạn.

    Nhưng trong truyện này lại lấy thi cử để ấn định việc truyền ngôi. Và người con thắng giải là người con thứ 18, có đến 17 ông anh trên đầu, lại là con nhà nghèo. Dĩ nhiên, con vua thì có lẽ ai cũng giàu gần như nhau mới hợp lý, nhưng nói đến nhà nghèo là để nhấn mạnh thêm lý thuyết “tuyển chọn do tài năng.”

    Trong thời quân chủ của nghìn năm trước, đây là một khái niệm cực kỳ tiến bộ trong tư tưởng chính trị.

    Thực sự thì trong nền quân chủ nước ta, nhân tài được tuyển chọn do thi cử, và tất cả mọi người trong nước đều được đi thi. Và chức vị của ai người nấy giữ, không thể truyền lại cho con cháu.

    Thời phong kiến và quân chủ ở Tây phương, chức vị quý tộc là chức vị cha truyền con nối, cha là qu‎ý tộc thì đương nhiên con thừa kế chức vị qu‎ý tộc của cha. Cho nên giới qu‎í tộc là một giới riêng rất rõ ràng. Giới tá điền, chỉ làm công cho qu‎ý tộc từ đời cha đến đời con đời cháu, và chẳng có đất đai hay quyền hành gì cả.

    Cho nên ngay vào thời phong kiến và quân chủ, xã hội Việt Nam không thực sự có giai cấp kiểu tây phương, và dân chủ hơn rất nhiều. Các “giai cấp” Việt Nam, ngay cả giai cấp quan quyền, mở rộng cho mọi người tài, nhờ hệ thống tuyển người qua năng lực.

    Ý thức về dân chủ, bình đẳng cơ hội để thăng tiến, đã có trong nếp nghĩ của người Việt từ ngàn xưa.

    (Trần Đình Hoành bình)
    Lần sửa cuối bởi longphibaccai, ngày 17-09-2011 lúc 10:42 PM.
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  7. The Following 7 Users Say Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    0palfz (19-09-2011), Dj_BjRurn9x (17-09-2011), haiditchai (17-09-2011), kunshuu (02-10-2011), Minhquan1993 (28-12-2011), mrxh92 (18-09-2011), ohmygod11 (19-09-2011)

  8. #2
  9. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  10. Bài viết
    297
  11. Thanks
    4
  12. Thanked 136 Times in 95 Posts
  13. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    TRUYỆN PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG

    Thời Hùng Vương, thiên hạ thái bình, dân gian giàu có. Vua nhà Ân lấy cớ nước Nam không có triều kiến, sai tuần thú đem quân sang đánh. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi kế chống cự. Có người tâu rằng: “Sao không cầu Long Vương đưa âm quân lên giúp”.


    Vua nghe lời, bèn ăn chay, lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, thắp hương cầu đảo ba ngày. Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn sáu thước, mặt to bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói múa ca. Những người trông thấy đều cho là kẻ lạ thường, mới tâu lên vua. Vua thân hành ra vái chào, rước vào trong đàn. Cụ già không nói năng cũng không ăn uống. Vua đến hỏi: “Nghe tin quân phương Bắc sắp sang xâm lược, ta thua được thế nào” (1). Cụ già ngồi im một lúc, kính cẩn rút thẻ ra bói, bảo vua rằng: “Ba năm nữa, giặc Bắc sẽ sang đây”. Vua lại hỏi kế chước ra sao?. Cụ già đáp: “Kế giữ nước, ấy là phải nghiêm ngặt chỉnh đốn khí giới, rèn luyện binh lính cho tinh nhuệ, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phong cho tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy”. Dứt lời, bay mất lên không, mới biết đó là Long Quân vậy.

    Ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc Ân tới. Vua làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu tìm người hiền tài. Tới làng Phù Đổng, huyện Vũ Ninh (2), trong làng có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một bé trai, đã ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được. Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói giỡn rằng: “Sinh được thằng con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình, báo đáp công ơn bú mớm”. Bé trai nghe mẹ nói, đột nhiên bảo: “Mẹ mời sứ giả tới đây, hỏi xem có việc gì”. Người mẹ kinh ngạc vô cùng, vui mừng kể lại với hàng xóm rằng con mình đã biết nói. Hàng xóm cũng lấy làm kinh ngạc, tức tốc mời sứ giả tới. Sứ giả hỏi: “Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?”. Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh sợ bại trại, vua phải lo gì nữa?”. Sứ giả vội về tâu với vua. Vua mừng nói rằng: “Ta không lo nữa”. Quần thần tâu: “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?”. Vua nói: “Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa”, rồi ra lệnh cân năm mươi cân sắt đúc thành ngựa, nón”.



    Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hãi nói con rằng tai họa đã đến. Người con cả cười bảo rằng: “Mẹ hãy chuẩn bị cơm, rượu cho con ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo”. Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn nhiều, người mẹ cung cấp không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu bò, bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy lau lách buộc thêm vào cho kín người. Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu (Trâu Sơn), người con mới duỗi chân đứng dậy, cao hơn mười trượng, ngửa mũi hắt hơi liền hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn: “Ta là tướng nhà trời đây!” rồi vung kiếm, đội nón cưỡi ngựa, ngựa chồm lên hí dài mà chạy như bay, quan quân theo sau, tiến sát đồn giặc, đánh nhau ở dưới núi Trâu, huyện Vũ Ninh Quân giặc đại bại, chém giết lẫn nhau. Vua nhà Ân bị giết ở núi Trâu, quân lính còn lại đều bái lạy, xưng gọi “Tướng nhà trời” rồi cùng hàng phục. Đi đến đất Sóc Sơn, thôn An Việt, Tướng nhà trời cởi áo, cưỡi ngựa bay lên trời, còn để vết tích ở hòn đá trên núi.

    Vua Hùng Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương (3), lập miếu thờ ở nhà cũ trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương khói. Nhà Ân, qua hơn 27 đời vua, 644 năm không dám đem quân quấy nhiễu. Bốn phương nghe tiếng thảy đều đến thần phục vua Hùng.

    Sau vua Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương (4), lập miếu thờ ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ.

    Chú thích:
    1) Bản VHV 1473 còn có thêm câu: “Có ý kiến gì xin ngài bảo giúp”.
    2) Nay là tỉnh Bắc Ninh
    3) Phù Đổng Thiên Vương: Chữ Hán có nghĩa là “Tướng trời ở làng Phù Đổng”, tục gọi là thánh Dóng.
    4) Xung Thiên Thần Vương: Chữ Hán có nghĩa là “Tướng thần bay vút lên trời”.

    (Nguyễn Hữu vinh dịch)
    .
    Bình:


    • Truyện này trong nguyên bản Hán Văn là truyện “Đổng Thiên Vương”. Có thể Đổng là chữ Hán viết âm nôm Dóng mà ra. Tuy nhiên “thánh Dóng” hay “thánh Gióng” vẫn còn là một đề tài tranh luận. Ở đây, chúng ta sẽ tạm dùng “thánh Dóng”.

    • Câu chuyện bắt đầu 3 năm trước khi đánh nhau với nhà Ân: Có nghĩa là phải luôn chuẩn bị cho chiến tranh. Đừng đợi nước đến chân mới nhảy. Lo cho chiến tranh khi đang hòa bình.

    • Nhiều số 3 dùng trong truyện. Ta đã nói đến tâm lý‎ con người yêu chuộng số ba trong truyện Đầm Một Đêm.

    • Ông già to lớn ca hát ở ngã ba: Già là biểu tượng cho thông thái. Ca hát là biểu tượng cho văn nghệ sĩ và trí thức. Ca hát ở ngã ba là điên điên khùng khùng.

    Vào ngày xưa, nam thì cầm kỳ thi tửu–đàn, cờ, thơ, rượu, và nữ thì cầm, kỳ, thi, họa. Cho nên trí thức và văn nghệ sĩ gần như có cùng một nghĩa, không như ngày nay.

    Đây là nói về văn nghệ sĩ và giới trí thức có tiếng nói “điên điên khùng khùng”, không giống đại đa số dân chúng. Họ là những người sâu sắc, thấy xa trông rộng, thấy những điều không mấy người thấy, thấy chuyện chưa xảy ra, cho nên tiếng nói của họ thường “không giống ai” và “điên điên khùng khùng”. Chỉ rất ít người thông thái mới hiểu được họ.

    Và văn nghệ sĩ và trí thức cảm nhận được hồn thiêng dân tộc, nói lên được tiếng nói của hồn thiêng dân tộc, nên truyện mới nói “ông già múa hát” chính là Long Quân.

    Hùng Vương không những không chê cười “ông già múa hát” mà còn mời vào xin ý kiến, để có thể nghe các lời điên điên khùng khùng, đó là vua thông thái.

    Vua không có tầm nhìn chỉ có thể nghe ve vuốt của những kẻ “thức thời.”

    • Cố vấn của ông già Long Quân là: “Kế giữ nước, ấy là phải (1) nghiêm ngặt chỉnh đốn khí giới, (2)rèn luyện binh lính cho tinh nhuệ, lại phải đi (3) tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ.”

    “Cố vấn” này thì rất đơn giản, ai cũng biết, sao lại phải cố vấn cho vua? Thưa, đơn giản nhưng lại cực kỳ căn bản. Vì cực kỳ căn bản và quan trọng cho nên chính Long Quân phải lập lại cho vua.

    Chú ý đến thứ tự, không làm đúng thứ tự này thì thuật trị nước không thành: (1) nghiêm ngặt, (2) rèn luyện, (3) tìm nhân tài.

    Ngày nay, thuật trị nước này không chỉ cho chiến tranh quân sự, mà còn là chiến tranh chống nghèo đói và lạc hậu, chiến tranh kinh tế với các quốc gia khác trên thương trường quốc tế…

    • Ông già ở làng Phù Đổng 60 tuổi mới sinh con, bé trai 3 tuổi mà chỉ biết nằm ngửa và không biết nói: “Già 60 tuổi” là biểu tượng cho khôn ngoan thông thái.

    Đứa bé là đứa con của sự khôn ngoan thông thái. Đứa bé là biểu tượng của nhân dân. Nhân dân lúc nào cũng xem ra yếu đuối, ngu ngơ, không biết nói, không biết làm gì cả, ngu ngơ đần độn. Nhưng nhân dân thực sự là đứa con của khôn ngoan, vì khi quốc biến nhân dân là cứu tinh của quốc gia.

    Đứa bé cũng là biểu tượng của quân đội, từ nhân dân mà ra, khi quốc biến.



    • Vua phải đến với dân, dân không tự động đến với vua. Đối thoại phải do vua khởi xướng và người thay mặt vua phải đến gặp dân trong làng xã. Và vua, cũng như người đại diện, phải nghe dân nghiêm chỉnh, dù là dân chỉ có vẻ ngu ngơ như trẻ lên ba. Theo ‎ý dân mà làm việc.

    Binh pháp Tôn Tử nói đến 5 yếu tố chính của chiến lược: Đạo, thiên, địa, tướng, pháp. Đạo là quan trọng nhất: “Đạo là chỉ việc chính trị, đạo nghĩa, phải làm cho nguyện vọng của dân chúng và vua nhất trí với nhau, đồng tâm đồng đức.”

    Vua dốt, thì không những không “gợi” cho dân nói, mà khi dân phê phán kêu ca thì bịt miệng dân cho được việc.

    • Ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước và một nón sắt: Đây hẳn nhiên là quân trang quân dụng cần thiết cho một quân đội.

    Ngựa sắt là phương tiện và khả năng di chuyển thần tốc, quan trọng số một trong quân sự, nên ngựa sắt cao 18 thước. 18 là 2 lần 9, 9 là số lớn dương lớn nhất (thái dương), ‎ý nói rất nhiều, rất lớn (Số 18 cũng dùng trong 18 đời Hùng Vương).

    Kế tiếp là vũ khí tấn công, kiếm sắt 7 thước. 7 là số dương lớn thứ 2, dưới số 9.

    Sau đó là nón sắt, bảo vệ binh sĩ.

    Điểm quan trọng cần lưu ý ở đây là l‎ý thuyết chiến lược của Việt Nam nhắm vào vận tốc là yếu tố quan trọng nhất (số 18 của ngựa sắt), và binh sĩ phải nhẹ để di chuyển nhanh (cho nên chỉ có mũ sắt mà không có giáp sắt). Vũ khí đứng thứ hai sau vận tốc. Đây là l‎ý thuyết chiến lược giúp chúng ta bách chiến bách thắng trong cả nghìn năm nay, không thể sao nhãng được.

    Binh pháp Tôn Tử nói: “Chim ưng vồ mồi chỉ một cú có thể xé nát con mồi, đó là nhờ vào thế tiết nhanh chớp nhoáng.”

    Điều này rất thường đối với dân Việt, đã rành thuật chiến tranh ngay khi còn trong bụng mẹ. Nhưng quan sát các trận chiến của các đại gia thế giới, như Mỹ trong mấy thập niên qua, thì trọng tâm của chiến lược của họ là sức mạnh trấn áp của vũ khí, chứ không phải vận tốc uyển chuyển, xuất quỷ nhập thần, của chiến binh.

    • “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?” Một người đây là “đồng lòng nhất chí. Một dân tộc, một tấm lòng.”

    Một quân đội (đứa bé) đến từ dân, toàn dân lo lắng nuôi nấng quân đội, vua lo lắng quân trang quân dụng, đáp ứng các nhu cầu của quân đội. Một quốc gia đoàn kết như thế, ắt phải chiến thắng.

    • Và đứa bé bắt đầu ăn uống to lớn: Đó là biểu tượng của quân đội và nhu cầu của quân đội. Quân đội rất tốn kém. Một đứa bé mà cả làng phải lo ăn lo mặc. Cho nên chuyện chiến tranh là chuyện rất tốn phí, chỉ là chuyện bất dắc dĩ. Không nên đánh nhau khi không cần.

    Binh pháp Tôn tử nói: “Bách chiến bách thắng cũng chưa phải là cách sáng suốt trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm cho kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt.”

    • Cả làng nuôi đứa bé cũng là ý nói quân đội cần gần dân, cần được dân hỗ trợ. Quân đội không thể sống vững nếu xa dân.

    • Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu (Trâu Sơn), em bé mới duỗi chân thành người cao lớn cưỡi ngựa sắt tấn công: Đây là chiến lược “phòng thủ bằng cách tấn công”, không đợi địch đến vây thành và ở trong thành để chỉ phòng thủ bị động. Chủ động tấn công trước, tại chiến địa do ta lựa chọn.

    Dùng thế núi tấn công là chọn lợi thế địa hình cho ta: Vừa có địa thế tốt, vừa quen địa thế.

    Luôn luôn chủ động chiến trường. Binh pháp Tôn Tử nói: “Người chỉ huy tác chiến giỏi là người có thể điều khiển quân địch chứ không theo sự điều khiển của quân địch.”

    • Thắng trận song rồi cởi áo bay về trời: Các chiến binh sau chiến tranh là cởi áo giải ngủ, trở về đời sống vô danh, không mong danh lợi.

    Chiến binh chiến đấu vì tổ quốc, không vì lợi danh.

    Toàn dân chiến đấu vì tổ quốc, không vì lợi danh.

    Đây có hai điều hơi trái ngược nhau trong truyện. Long Quân khuyên vua: “Phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phong cho tước ấp, truyền hưởng lâu dài.” Đó là về phần vua, phải tỏ lòng thành bằng chính sách đãi ngộ nhân tài.

    Nhưng nhân tài, nhất là chiến sĩ, chiến đấu hy sinh vì yêu tổ quốc chứ không phải vì danh tiếng, quan chức, bỗng lộc. Vua cũng phải hiểu đến điều này, để lấy cái tâm, láy lòng thành, mà trị quốc, chứ không phải chỉ đem lợi danh ra mồi chài những kẻ bất tài vô tướng.

    Tưởng nhớ đến Thánh Dóng Phù Đổng Thiên Vương chính là tưởng nhớ đến các anh hùng vô danh của tổ quốc, từ các chiến sĩ vô danh đến các người dân vô danh, luôn hy sinh đời mình cho tổ quốc khi quốc biến.

    (Trần Đình Hoành bình)
    Lần sửa cuối bởi longphibaccai, ngày 19-09-2011 lúc 12:28 PM.
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  14. The Following 3 Users Say Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    0palfz (19-09-2011), Minhquan1993 (28-12-2011), ohmygod11 (19-09-2011)

  15. #3
  16. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  17. Bài viết
    297
  18. Thanks
    4
  19. Thanked 136 Times in 95 Posts
  20. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    SỰ TÍCH TRẦU CAU

    Thời thượng cổ có một vị Quan Lang (1) sức vóc cao lớn, nhà vua ban tên là Cao cho nên lấy Cao làm họ. Cao sinh hạ được hai người con trai, con cả tên là Tân, con thứ tên là Lang (2). Hai anh em giống nhau như đúc, trông không thể phân biệt nổi. Đến năm 17, 18 tuổi, cha mẹ đều từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ họ Lưu. Nhà họ Lưu có một người con gái tuổi cũng khoảng 17, 18, muốn kết làm vợ chồng. Nàng chưa biết người nào là anh, mới bày một chén cháo và một đôi đũa, cho hai anh em cùng ăn. Người em nhường anh ăn trước. Nàng về nói với cha mẹ xin làm vợ người anh, tình vợ chồng ngày càng nồng thắm. Về sau, người anh có thể đối xử lạt lẽo với em, người em tự lấy làm tủi hổ, cho rằng anh lấy vợ rồi nên quên mình, bèn không cáo biệt mà bỏ đi. Đi tới giữa rừng, gặp một dòng suối sâu, không có thuyền để qua, đau đớn khóc lóc mà chết, hóa thành một cây cau mọc ở ven bờ. Người anh ở nhà không thấy, từ giã vợ đi tìm. Tới chỗ đó, thấy em đã chết, gieo mình chết, hóa thành phiến đá, nằm ôm quanh gốc cây. Người vợ thấy chồng đi lâu không về bèn đi tìm chồng, tới chỗ này thấy chồng đã chết, cũng gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết, hóa thành một cây dây leo cuốn quanh phiến đá, lá có mùi thơm cay (tức là dây trầu). Cha mẹ nàng họ Lưu đau xót vô cùng, bèn lập miếu thờ. Người trong vùng đi ngang qua chỗ đó đều đốt hương cúng vái, ca tụng anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa.




    Khoảng tháng bảy tháng tám, khí nóng chưa tan, Vua Hùng đi tuần thú, dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây lá xum xuê, giây leo chằng chịt, vua leo lên phiến đá xem xét, hỏi rồi mới biết có chuyện như vầy, than thở hồi lâu, truyền cho bầy tôi hái lấy lá trầu, vua nhai rồi nhổ bọt lên phiến đá, thấy có sắc đỏ, mùi vị thơm ngon bèn lấy mang về. Rồi cho lấy lửa nung đá làm thành vôi, lấy vôi ăn với trái cau và lá trầu, mùi vị thơm nồng, dòn, ngọt, má đỏ môi hồng, nên cho thiên hạ ai ai cũng trồng cau trầu khắp nơi, gặp việc cưới hỏi, tế lễ lớn nhỏ đều lấy trầu cau làm đầu. Đó chính là cây cau, cây trầu và vôi vậy.

    Nguồn gốc cau trầu nước Nam ta là như thế đó.

    Chú thích:

    1) Đời Hùng Vương, con trai gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương
    2) Tân Lang: chữ Hán 檳榔, hai chữ Tân Lang ghép lại chữ Hán có nghĩa là cây cau.

    (Nguyễn Hữu Vinh dịch)
    .

    Bình:

    • Tục nhai trầu và cau là tục lệ chung từ thời cổ đại tại nhiều quốc gia vùng Nam Châu Á Thái Bình Dương–Ấn Độ, Pakistan, vài tỉnh ở Trung Quốc, Thái Lan, Sri Lanka, Papua New Guinea, Bangladesh, Đài Loan, Miến Điện, Kampuchia, Solomon Islands, Lào, Maldives, Indonesia, Phi Luật Tân, và Việt Nam.

    Tại các nơi này trầu cau thường là một phần của giao tế xã hội, có lẽ vì tích cách kích thích nhè nhẹ của nó, như là chúng ta uống rượu nhẹ ngày nay. Cau còn được dùng nhiều trong y học cổ truyền, như thuốc trừ đau răng và sán lãi.

    Trong tiếng Anh, cau là areca nut (không phải là betel nut như nhiều người lầm tưởng), và lá trầu là betel leaf. Ăn trầu (nhai trầu cau) là “chewing areca nut and betel leaf”.

    • Dù lý do giải thích (em thấy anh có vẻ thương chị dâu hơn mình nên bỏ đi) nghe gượng ép và không hợp lý mấy, bài này rất rõ là sự chấm dứt của tình trạng một người phụ nữ sống chung với 2 anh em dưới một mái nhà. Đây là một dấu hiệu khác của sự dẫy chết của chế độ mẫu hệ trong văn hóa chính thức của người Việt, nói đúng ra là người Kinh. Vì văn hóa mẫu hệ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay tại vài bộ tộc miền cao của nước ta. Theo tục nối dây của người Êđê chẳng hạn, khi người chồng mất, người phụ nữ có quyền lấy một người khác trong gia đình chồng, như là anh hay em chồng, hay chú chồng, cháu chồng, v.v… để tiếp tục “nối dây” cho hai gia đình. Dĩ nhiên, đó không phải là đa phu, nhưng nó nói rằng liên hệ tình cảm giữa người phụ nữ và thân nhân bên nhà chồng là chuyện trong vòng lễ giáo một lúc nào đó, không phải là chuyện vô đạo đức đến mức sống chung trong một mái nhà cũng là chuyện không nên, như truyền thống Khổng giáo mà truyện này ám chỉ.

    (Trong truyền thống đa thê của Trung quốc, đàn ông có thể lấy vài chị em một nhà, nhưng đàn bà chì có một chồng. Chồng chết thì ở vậy nuôi con. Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.)

    • Lịch sử cổ đại của Việt Nam có nhiều điểm chính chỉ ra chế độ mẫu hệ:

    – Truyện Hồng Bàng là huyền thoại, dù là có vẻ phụ hệ bên ngoài, nhưng như đã phân tích, tính mẫu hệ rất nặng trong truyện.

    – Kế đến là An Dương Vương, lại là huyền thoại, dù là đàn ông, nhưng nhân vật chính trong đó là phụ nữ, Mỵ Châu, nắm bí mật quốc gia. Chẳng thấy chàng hoàng tử nào của An Dương Vương có mặt.

    – Hai vị vua đầu tiên trong lịch sử (không phải là huyền thoại) là Hai Bà Trưng.

    – Người tên tuổi kế tiếp trong lịch sử, đến cả 400 năm sau, là Triệu Thị Trinh, tức Bà Triệu.

    – Sách sử nói hai thứ sử của nhà Hán cai trị Việt Nam là Nhâm Diên (Giao Chỉ) và Tích Quang (Cửu Chân) phải dạy dân ta cưới hỏi và các lễ nghĩa khác. Dĩ nhiên không phải vì dân Việt không biết các lễ nghĩa này, nhưng có lẽ dân Việt dùng một lễ nghĩa khác—lễ nghĩa mẫu hệ thay vì lễ nghĩa phụ hệ của Khổng giáo từ Trung quốc.

    • Các tên dùng trong truyện trầu cau rất thú vị:

    1. Quan Lang họ Cao, rất gần âm Cau. Phải chăng cây cau có tên đó vì cao?

    2. Theo Nguyễn Hữu Vinh, Tân Lang (tên hai cậu con trai), chữ Hán viết chung có nghĩa là “cây cau”.

    Nhưng “tân lang” cũng có nghĩa là “người đàn ông mới”, đại diện cho văn hóa mới, phụ hệ, từ phương Bắc?

    3. Tên của “hai” cậu (Tân và Lang) lại có nghĩa là “một” cây cau, hay “một” người đàn ông. Đây là nghĩa l‎ý chính trong tục “nối dây”: Tất cả các người đàn ông trong một gia đình là “một” sợi dây để nối vào vợ. (Hay ngược lại).

    4. Họ của cô con gái là họ Lưu. Một trong những nghĩa thông dụng nhất của chữ “lưu” mà ta vẫn dùng cho đến ngày nay là “giữ lại, lưu lại”.

    Vậy thì giữ lại gì? Thưa, giữ lại đạo nghĩa (cổ truyền), vì trong truyện bố cô gái là đạo sĩ họ Lưu.

    5. Và họ nhà trai, là Quan Lang, tức là quyền lực chính trị.

    Rất rõ đây là đụng chạm giữa hai nền văn hóa: Văn hóa mẫu hệ cũ tại bản xứ, và văn hóa mới của quyền lực chính trị từ phương Bắc sang.

    Hậu quả là sống theo kiểu cũ không được, thì chết để cùng sống chung mỗi khi ai đó ăn trầu.

    (Trần Đình Hoành bình)

    P/S: còn 1 vấn đề nữa là từ xưa nước Việt ta không có sự ép buộc của bố mẹ trong việc yêu đương và cưới xin của con cái ( cha mẹ đặt đâu con ngồi đó ). trong câu truyện, có đoạn viết Nàng về nói với cha mẹ xin làm vợ người anh , điều này chứng tỏ người yêu của con gái đạo sĩ họ Lưu đã xác định với bố mẹ người mình yêu và muốn lấy làm chồng. Việc nàng nói với cha mẹ là tỏ lòng tôn kính với đấng sinh thành.
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  21. The Following 3 Users Say Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011), nh0k_bMt (08-10-2011), ohmygod11 (22-09-2011)

  22. #4
  23. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  24. Bài viết
    297
  25. Thanks
    4
  26. Thanked 136 Times in 95 Posts
  27. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    Nếu thuyết âm dương ngũ hành là 1 học thuyết thống nhất, thì bánh chưng là phương ứng dụng tuyệt vời trong cách điều hòa âm dương trong ẩm thực của người Việt, mà không 1 đất nước nào trên thế giới có loại bánh này, phần này tôi post bổ sung cho truyện Bánh chưng bánh dày.

    Bánh chưng: Dược liệu quý giá


    Xét về mặt y dược học thì bánh chưng là một dược liệu quý giá, đơn giản, dễ kiếm, lại rất tự nhiên bởi nó vừa là thuốc, vừa là món ăn.

    Tại sao vậy?
    Bánh chưng điều hòa được âm dương, lưu thông được khí huyết, giải trừ được bệnh tật đã ghi lại lý giải điềuđó như sau:Gạo nếp chín nhừ trong thủy,hỏa có công năng kiện tỳ, trợ tiêu hóa, bổ cả tỳ dương và cả tỳ âm.Thịt lợn tính bình hòa có hàm lượng dinh dưỡng cao, mỡ lợn tính ôn nhuận làm trơn tru, hoạt tràng vị và tăng cường thế ôn, chống cự hàn tà.Hành củ còn gọi là thông bạch,có tác dụng hành khí tiêu thực, hoạt huyết, giảm thống và giải được tà khí phong hàn.Đậu xanh dưỡng can giải độc, sáng mắt và thư cân hoạt lạc.Hạt tiêu ấm tì vị, trợ bệnh môn hỏa, thông tam tiêu, tiêu thực và sát trùng.Tinh dầu cà cuống phương hướng khai khiếu, tỉnh tì, gây cảm giác ngon miệng.Chất diệp lục của lá dong làm bánh chưng có màu xanh đặc biệt, ưa nhìn dễ ngửi. Đồng thời lá dong có tác dụng giải tửu độc, nhuận tràng, tiêu thấp nhiệt. Nhân dân ta hay dùng lá dong khi có ai quá chén say sưa, thì mang lá dong sấy sắc nước cho họ uống, kịp thời giải tửu độc ngay, công hiệu lạ lùng.
    Chính vì có sự điều hòa 5 vị trong một món ăn mà tăng thêm khẩu vị ngon, bồi dưỡng sức khỏe. Đó chính là giữ được mức quân bình của ngũ hành sinh khắc chế hóa trong cơ thể, là cách khéo vận dụng ngũ hành để lặp lại thăng bằng âm dương. Lá dong có tính bình can, thông đại trạng, trừ thấp tiêu viêm, mùi thơm của nó thanh được uế khí. Thật là một pháp công bổ kiêm thi, hàn nhiệt tịnh dụng nhất âm, nhất dương chi vị đạo, dẫn đến toàn chân nhất khí.

    (Bạch Đằng Giang Sưu tầm)
    Lần sửa cuối bởi longphibaccai, ngày 21-09-2011 lúc 05:08 PM.
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  28. The Following User Says Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011)

  29. #5
  30. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  31. Bài viết
    297
  32. Thanks
    4
  33. Thanked 136 Times in 95 Posts
  34. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    SỰ TÍCH ĐẦM DẠ TRẠCH
    Hùng Vương truyền tới đời thứ ba sinh được một Mỵ Nương (1) đặt tên là Tiên Dung, đến tuổi 18 dung nhan đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, thích chu du vui chơi khắp nơi trong thiên hạ. Vua đành chịu vậy, không cấm đoán được. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba Tiên Dung lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài biển, vui quên trở về.




    Hồi đó ở làng Chử Xá ven sông, có người dân tên là Chử Vi Vân sinh được một người con trai là Chử Đồng Tử. Cha từ, con hiếu, nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, chỉ còn lại một khố vải duy nhất, cha con ra vào thay nhau mà mặc. Tới lúc cha già lâm bệnh gần chết bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con, để khỏi xấu hổ”. Con không nỡ làm theo, liệm khố rồi đem chôn. Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông cầm cần câu cá; hễ nhìn thấy có thuyền buôn qua lại thì đứng ở dưới nước mà xin ăn. Bất ngờ thuyền của Tiên Dung xốc tới, chiêng trống nhã nhạc, cờ lọng huy hoàng, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ, không biết chạy trốn đi đâu. Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây, Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống phủ cát lên mình. Lát sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh đào hố, lấy lau vây màn làm chỗ tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo dội nước, cát trôi mất để lộ ra thân hình của Chử Đồng Tử. Tiên Dung hổ thẹn hồi lâu, thấy là con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp ngươi, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là do trời xui khiến vậy. Ngươi hãy mau đứng dậy tắm rửa”. Tiên Dung ban cho quần áo mặc rồi cùng xuống thuyền mở tiệc vui chơi. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử kể lại tình cảnh của mình, Tiên Dung ta thán, muốn nên vợ chồng. Đồng Tử cố từ chối, song Tiên Dung nói rằng: “Đây do trời chắp nối, sao lại cứ chối từ?”.




    Người theo hầu vội về tâu lại với Hùng Vương. Vua giận nói: “Tiên Dung không thiết tới danh tiết, không màng tới của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ nghèo khổ, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa, rồi cấm không cho Tiên Dung trở về”. Tiên Dung nghe sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở chợ búa, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành phố chợ lớn (nay là chợ Thám). Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán, kính nể tôn Tiên Dung và Chử Đồng Tử làm chủ. Có người lái buôn giàu có nói với Tiên Dung rằng: “Người bỏ một dật (2) vàng, cùng tôi ra ngoài bể mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do người làm nên, vậy nên đem vàng cùng phú thương ra biển buôn bán làm ăn”. Đồng Tử bèn cùng lái buôn đi buôn bán. Đến núi Quỳnh Vi, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại đó lấy uống nước. Đồng Tử lên am chơi, trong am có sư tên gọi Phu Quang truyền phép cho Đồng Tử, Đồng Tử ở lại học phép, giao tiền cho lái buôn mua hàng. Sau bọn lái buôn quay lại am chở Đồng Tử trở về. Sư bèn tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”.





    Đồng Tử trở về, giảng đạo lại cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, liền bỏ phố phường, chợ búa cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo. Có lần, trên đường đi xa, trời tối chưa về kịp nhà, tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài, kho tàng, xã tắc, vàng bạc, châu báu, giường chiếu, chăn màn, tiên đồng, ngọc nữ, tướng sĩ, thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau, ai nấy trông thấy cũng kinh ngạc lạ lùng, đem hương hoa, lễ vật tới dâng xin làm bề tôi, có văn võ trăm quan, chia quân túc vệ, lập thành nước riêng.

    Hùng Vương nghe tin, cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần của Tiên Dung xin đem quân ra chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sống chết tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin thuận theo lẽ chính, để mặc cho cha chém giết”. Lúc đó, dân mới tới theo đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại với Tiên Dung. Quan quân tới, đóng trại ở bãi Tự Nhiên, chỉ còn cách con sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm, bỗng nhiên gió lớn nổi lên, cát bay, cây đổ, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay bổng lên trời. Đất chỗ đó sụt xuống thành cái đầm lớn. Ngày hôm sau, dân chúng không thấy thành quách đâu cả, đều cho là linh dị. Về sau, dân lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi đầm là đầm Nhất Dạ (Nhất Dạ Trạch, nghĩa là đầm một đêm), gọi bãi là bãi Tự Nhiên, còn gọi là bãi Mạn Trù (hố tắm), và gọi chợ là chợ Hà Thị (chợ Hà). Sau đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa, nơi đây một đêm mà thành đầm nhà trời, đúng vậy!” (3). Nhân gặp loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, cho tì tướng là Dương Sàn thống lĩnh sĩ tốt, Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đầm mà bảo Quang Phục rằng: “Ta tuy đã lên trời, nhưng linh hiển còn đó, ngươi có lòng thành cầu tới, ta đến để giúp đánh dẹp giặc loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng trao cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu (4), đánh đâu diệt đó”. rồi bay mất lên trời. Quang Phục được vuốt rồng, xông ra đột kích, quân Lương thua to, chém được Dương Sàn ở giữa trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh (5).

    Chú thích:
    1) Con gái của Vua Hùng gọi là Mỵ Nương (xem truyện Hồng Bàng).
    2) Dật: Một đơn vị đo lường thời xưa.
    3) Bản A 2914 còn có thêm câu: “Ôi, mà ngày hôm nay, đêm đêm đồn quân án giữ mà chẳng biết giặc núp nơi đâu”
    4) Mũ đâu mâu: Đâu mâu兜鍪 là cái mũ trụ, mũ quân lính đội lúc ra trận.
    5) Nay là Bắc Ninh

    (Nguyễn Hữu Vinh dịch)
    .

    Bình:

    • Đa số các truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái nói đến đời Hùng Vương thứ 3, như truyện này. Số 3 là số thiếu dương trong Dịch học. Thiếu dương là bắt đầu khởi động, bắt đầu đi lên, cho nên là con số quan trọng, dù chỉ là nhỏ (“thiếu”).

    Thực ra số 3 rất quan trọng cho tâm thức con người, hầu như trong tất cả mọi nền văn minh trên thế giới. Có một điều gì đó làm cho con người mê chuộng số 3: Trời đất người, body mind spirit, chúa ba ngôi, bố mẹ con, đầu mình tứ-chi, bắc trung nam, tam bảo Phật Pháp Tăng…

    • Lòng hiếu thảo của Chử Đồng Tử với cha thì rất rõ — nhường cái khố duy nhất cho cha. Nhưng điều này còn nói lên sự quan trọng của việc tiễn người ra đi. Cho đến ngày nay người Việt vẫn tin người chết ở cõi âm cần dùng nhiều thứ, cho nên tục đốt vàng mã vẫn còn rất mạnh. Cái khố cho bố không phải chỉ để mai táng cho trịnh trọng, mà vì bố còn cần dùng nó hàng ngày ở cõi âm.

    Cho đi cái khố duy nhất còn là để chuẩn bị cho đoạn sau—một Chử Đồng Tử hoàn toàn trần trụi.

    • Con người trần truồng là con người thật sự, chính hắn ta, như là trời sinh, không một mảnh vải để làm cho hắn nhìn khác đi một tí. Con người không trau chuốt, không giả tạo, không dối trá, không ảo tưởng… Khi chúng ta đến với nhau bằng con người thật của mình, chúng ta dễ gần gũi nhau hơn, dễ “kết” nhau hơn.

    Con người trần truồng còn là biểu tượng của cái tâm nguyên thủy của con người. Tâm trong sáng chưa bị lu mở bởi mọi chấp trước thế gian.

    Con người trần truồng, về mặt vật thể, còn có nghĩa là người nghèo nhất trong thiên hạ, thực sự nghèo đến mức không có khố che thân.

    • Chử Đồng Tử câu cá ở bờ sông, và phải đứng dưới nước để xin ăn: Văn hóa “nước” của người Việt mà ta đã nói đến trong Truyện Hồng Bàng.Nước là quê mẹ, nước là tổ quốc. Liên hệ tâm thức giữa người Việt với quê hương tổ quốc, ít ra là trên bình diện ngôn ngữ, có lẽ mạnh nhất trên thế giới, vì chẳng có gì quan trọng cho đời sống con người bằng nước, và ta dùng từ đó để gọi tổ quốc.

    • Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau là duyên tiền định: Số lấy con vua thì nghèo rớt mồng tơi vẫn lấy con vua. Số lấy chồng nghèo thì mình là con vua vẫn lấy anh chàng nghèo nhất nước. Đây là thuyết nhân duyên của nhà Phật. Nghiệp của các kiếp trước dự một phần lớn trong việc định đời sống của ta kiếp này. Tâm hiếu thảo của Chử Đồng Tử kiếp này cũng dự một phần trong việc định đời sống của chàng kiếp này.

    • Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau khi cả hai cùng trần truồng cũng là biểu tượng của tâm nguyên thủy của con người. Trong vũ trụ quan Phật giáo, tâm nguyên thủy của ta và nền tàng nguyên thủy của vũ trụ là một—là Không. Khi chúng ta giác ngộ, tâm ta không còn si mê, trở về trạng thái tinh tuyền nguyên thủy—Không. Ta và Không là một. Hai người trần truồng (Tiên Dung và Chử Đồng Tử) là biểu tượng cho hai tâm nguyên thủy, mà hai tâm nguyên thủy thì chỉ là một—là Không—biểu tượng của sự kết hợp thành vợ chồng, hai thành một. • Lấy nhau làm vua cha cả giận. Đây nói lên tính tự chủ của Tiên Dung, tự định đoạt đời mình. Tiên Dung là người nổi bật nhất về tự chủ trong truyện này. Về sau ta thấy Tiên Dung cũng chủ động trong việc làm ăn buôn bán. Dấu vết của chế độ mẫu hệ rất mạnh trong văn hóa Việt, như đã nói trong Truyện Hồng Bàng và Truyện Trầu Cau.

    • Ở đây chúng ta thấy có sự phối hợp của “duyên tiền định” và “ý chí” của con người. Thực ra dây không phải là hai điều khác nhau và trái ngược nhau như nhiều người lầm tưởng. Ý chí của con người cũng là một “nhân/duyên” trong hàng triệu “nhân/duyên” khác ảnh hưởng đến đời sống của hắn ta. Nhân duyên gồm có (1) nhân duyên của bao kiếp trước, (2) nhân duyên của các sự việc trong kiếp này và (3) ‎ý chí và nỗ lực của ta.



    • Thay vì cùng nhau ở ẩn, Tiên Dung và Chử Đồng Tử lại mở chợ búa buôn bán. Đây là triết lý nhập thế rất tích cực. • Nhờ ra bể buôn bán và gặp thầy học đạo: Đây là triết lý‎ hướng ngoại trong việc trị quốc. Mở rộng ra ngoài, liên hệ với bên ngoài, giao thương với bên ngoài, thì trí tuệ mới mở rộng được.

    Đương nhiên là điểm này còn nói đến việc Phật giáo du nhập vào nước ta qua đường biển, trực tiếp từ Ấn độ như nhiều sử gia Phật sử đã nói đến (cùng với đường từ Trung quốc ở hướng Bắc sang).

    • Thầy cho Chử Đồng Tử cây gậy và cái nón: Đây rõ ràng là các vật để đi đường. Tức là triết l‎‎ý nhập thế, “đạo vào đời”, của các thiền sư. Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma thường xuất hiện với cây gậy mang một chiếc dép; Phật Di lặc, gọi là hotei ở Nhật, là vị sư thường mang cây gậy và một bao (đồ chơi trẻ em). Nón thì che nắng, cây gậy là để bảo vệ và chống thú dữ trên đường đi, v. v… Nhưng chúng còn là biểu tượng gì?

    – Nón là một vòng tròn lớn, trống rỗng, trên đầu, là biểu tượng của Không–chân tánh của chính mình và của toàn thể vũ trụ–chân lý tối hậu của Phật pháp. “Không” bao trùm tất cả, như nón che toàn thân ta. (Đây cũng tương tự như một chiếc dép của Bồ Đề Đạt Ma thường được xem là biểu tượng của Một. Tất cả là Một, và một đó là Không). – Cậy gậy chống đở thường xuyên là biểu tượng cho giáo pháp—giới , định, tuệ–mà ta phải tu tập hàng ngày, để chống chọi lười biếng, si mê và thoái hóa.

    • Thành quách xuất hiện trong một đêm, trên đường học đạo: Chuyện này rất giống với phẩm Hóa Thành Dụ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khi một đạo sư làm thành quách giả cho các đệ tử nghĩ tạm trên đường tu học gian nan.

    Phật giảng tam thừa–Thanh Văn thừa (giác ngộ thành Alahán), Duyên giác thừa (giác ngộ thành Bích Chi Phật), Bồ Tát thừa (giác ngộ thành Bồ tát)–cũng chỉ là các “hóa thành” để tạm nghĩ, trên cùng một con đường Phật thừa (thành Phật).

    • Thành quách hiện ra một đêm, biến mất một đêm, cũng nói đến lẽ vô thường của đời sống—thành quách lâu đài vương giả cũng chỉ là phù du, hiện mất mất hiện chỉ một đêm.

    Tên “Đầm Một Đêm” (Nhất Dạ Trạch) nhấn mạnh đến lẽ vô thường đó.

    • Truyện này rõ là huyền thoại và triết lý 100 %, ngoại trừ việc Triệu Quang Phục sau này dùng Đầm Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến chống quân Lương là lịch sử. Truyện vuốt rồng và mũ đầu mâu của Triệu Quang Phục, nếu có vào thời Triệu Quang Phục, thì hẳn nhiên đó là mưu kế chiến tranh tâm lý.

    (Trần Đình Hoành bình)
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  35. The Following 2 Users Say Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011), mrxh92 (22-09-2011)

  36. #6
  37. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  38. Bài viết
    297
  39. Thanks
    4
  40. Thanked 136 Times in 95 Posts
  41. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    Sự Tích Quả Dưa Hấu


    Xưa, đời Hùng Vương có viên quan tên là Mai An Tiêm, vốn là người ngoại quốc. Vua mua từ thương thuyền về làm nô bộc từ khi lên 7, 8 tuổi. Khi lớn lên, diện mạo đoan chính, nhớ thuộc sự vật, vua ban cho tên là Mai Yển, hiệu An Tiêm, lại ban cho một người thiếp. Tiêm sinh hạ được một trai một gái. Vua rất tin yêu, giao cho công việc, dần dần trở nên giàu có, ai nấy đều khiếp sợ, kẻ quyền cao chức trọng đều muốn đến làm thân, của cải rất nhiều.
    Sau Tiêm đâm ra kiêu căng ngạo mạn, thường nói rằng: “Đó đều do kiếp trước ta tu mà có, không có phải do ơn chủ đâu”. Vua nghe nói cả giận, phán: “Làm bề tôi mà kiêu căng ngạo mạn, không biết ơn chủ! (1). Nay ta đưa nhà ngươi ra một nơi không có người ở giữa bể, xem nhà ngươi có còn của cải kiếp trước nữa hay không?”. Bèn đày Mai Yển ra ngoài cửa bể huyện Thán Sơn (2), bốn bề toàn cát và nước không có vết chân người qua lại, ban cho một số lương thực đủ ăn bốn năm tháng để cho ăn hết thì chết. Vợ Tiêm than khóc “Tôi chết ở đây rồi, không thể sống được”. Tiêm cười mà bảo: “Trời sinh ta tất sẽ nuôi ta, sống chết bởi trời, ta đâu lo lắng”.

    Bỗng thấy một con chim màu trắng từ hướng Tây bay lại, đậu ở đầu núi, kêu lên 3, 4 tiếng, nhả xuống 6,7 hạt dưa rơi xuống cát, hạt nở thành dây, mọc lên um tùm rồi kết thành trái rất nhiều. An Tiêm mừng rỡ nói rằng: “Đây không phải là vật dị thường mà là trời cho để nuôi ta đó”. Bèn bổ ra mà ăn, thấy mùi vị thơm ngon, tinh thần sảng khoái, mới đem ra trồng, ăn không hết, đem đổi lấy gạo nuôi vợ con. Tiêm không biết gọi là trái cây gì, nhưng vì chim ngậm hạt từ hướng Tây bay tới nên gọi là trái dưa hấu (Tây Qua) (3). Bọn phường chài, phường buôn ăn đều cho là ngon, đều đến mua bán đổi chác. Những người ở thôn xóm xa gần đều mua hạt về làm giống, theo mùa trồng trọt khắp nơi.

    Sau vua nghĩ tới Tiêm, cho người đến xem còn sống hay đã chết. Người đó về tâu lại với vua, vua thở dài mà than rằng: “Hắn nói là do ở kiếp trước, điều đó quả thực không ngoa”. Bèn xuống chiếu gọi về (4), cho giữ chức cũ, lại cấp cho nô tỳ. Bãi cát Tiêm ở gọi là bãi An Tiêm, chỗ An Tiêm ở gọi là làng Mai, nay thuộc huyện Nga Sơn. Xưa, người ta tôn An Tiêm là cha mẹ của dưa hấu, nay còn tôn làm ông tổ về dưa hấu.

    Đó chuyện về dưa hấu, có từ đời An Tiêm vậy.

    Chú thích:
    1) Bản A 2914 còn có thêm câu: “Lại còn nói là của cải kiếp trước của mình”.
    2) Có bản viết là “Giáp Sơn 莢山”, “Nham Sơn 岩山”
    3) Tây Qua: chữ Hán 西瓜có nghĩa là trái cây do hướng tây đưa tới, là trái Dưa hấu.
    4) Bản A 2914 viết như sau: “Bèn cho sứ đến gọi An Tiêm trở về kinh. An Tiêm đem theo dưa hấu dâng lên cho vua. Vua cho giữ chức cũ, cấp cho nô bộc, tì thiếp, ruộng vườn. Đặt tên bãi cát Tiêm ở gọi là bãi An Tiêm, thôn Tiêm ở gọi là thôn Mai (Mai thôn), tương truyền nay thuộc làng An Tiêm, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.


    (Nguyễn Hữu Vinh dịch)





    Bình:


    Lễ hội Mai An Tiêm, Nga Sơn, Thanh Hóa

    • Truyện này nói về việc Phật giáo du nhập vào nước ta từ vùng Ấn Độ, phía tây Việt Nam, với thuyết nhân quả. Khởi đầu rất rõ ràng và giản dị với Mai An Tiêm là người ngoại quốc, và hai luồng tư tưởng khác nhau—người ngoại quốc An Tiêm tin vào nghiệp duyên các kiếp trước đưa lại ân phước kiếp này ; Hùng Vương tin rằng ân phước của An Tiêm là do chính vua ban.

    Thuyết nhân quả khẳng định được chỗ đứng của nó với thành công tự đến với An Tiêm và sự chấp nhận sau cùng của Hùng Vương, biểu tượng cho thế đứng quan trọng của Phật giáo trong văn hóa Việt Nam hơn hai ngàn năm nay.

    • Trái dưa hấu–xanh vỏ đỏ lòng–là biểu tượng cho lòng khiêm tốn. Dưa hấu—non, già, chín–khi nào cũng như nhau, chỉ một màu xanh bên ngoài, chẳng mùi chẳng vị, chẳng một tí phô trương. Tất cả ngon ngọt đỏ hồng dấu kín bên trong.

    Lòng khiêm tốn chính là thái độ “vô ngã” của nhà Phật. Vô ngã là một trong ba dấu ấn (Tam Pháp Ấn) của Phật pháp—vô thường, vô ngã, niết bàn.

    Nếu một giáo pháp thiếu một trong ba dấu ấn này thì đó không phải là Phật pháp.


    • Chư Hành Vô Thường: Mọi thứ trên đời đều chuyển dịch, thay đổi, không cố định, không thường hằng

      Chư Pháp Vô Ngã: Mọi thứ trên đời đều không có một hiện hữu thật, tất cả chỉ là tạm thời và ảo tưởng (gần như người trên màn ảnh TV).

      Niết Bàn Tịch Tĩnh: Hoàn toàn tĩnh lặng thì ta sẽ thoát khỏi đau khổ do mê muội về bản chất vô thường và vô ngã của cuộc đời.

    • Trái dưa hấu còn là biểu tượng của Tâm trong Phật Pháp. Như lòng dưa hấu, tâm ta là gốc, là chủ. “Tâm dẫn đầu các pháp; tâm làm chủ, tâm tạo” (Kinh Pháp Cú). Đau khổ cũng do tâm ta mà ra, an lạc cũng do tâm ta mà ra. Tâm là hỏa ngục, tâm là niết bàn. Tâm là quỷ, tâm là Phật.

    • Vai trò quan trọng của dưa hấu trong ngày Tết nói lên vai trò quan trọng của tâm, khiêm tốn, và vô ngã trong văn hóa Việt.

    (Trần Đình Hoành bình)
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  42. The Following User Says Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011)

  43. #7
  44. Đang ở
    lãnh địa của spammer
  45. Bài viết
    5,527
  46. Thanks
    186
  47. Thanked 742 Times in 309 Posts
  48. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    Giờ mới biết nó có nhiều ý nghĩa vậy á
    Lạc nước hai xe đành bỏ phí,
    Gặp thời một tốt cũng thành công.


  49. #8
  50. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  51. Bài viết
    297
  52. Thanks
    4
  53. Thanked 136 Times in 95 Posts
  54. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    Đọc thêm:

    "Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành
    (Bánh Chưng bánh Dầy là biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành)"


    Bánh Chưng bánh Dầy là một biểu tượng văn hoá đặc trưng độc đáo của người Việt Nam. Theo truyền thuyết kể lại, biểu tượng văn hoá này có nguồn gốc từ thời Hùng Vương thứ VI mà con dân Lạc Việt lưu truyền trải đã hàng ngàn năm, đến tận bây giờ.

    Hầu hết mọi người quan tâm đến “Truyền thuyết bánh Chưng, bánh Dầy” đều thống nhất nhận thấy ở trong đó thể hiện vũ trụ quan của dân tộc Việt. Nhưng hầu hết những ý kiến đều cho đó là quan niệm thô sơ của người xưa: “Trời tròn, đất vuông”. Trời như cái vung úp xuống đất, đất bằng phẳng và chung quanh là biển. Hoặc cũng có người cho rằng bánh chưng, bánh dầy là thể hiện những giá trị đạo lý của người xưa đối với cha mẹ: “Trời sinh là cha, đất dưỡng là mẹ”.

    Bánh Chưng tượng đất, chứa đựng những hình tượng về sự phú túc của đất mẹ nuôi dưỡng con người (trong bài tựa “Lĩnh Nam Chích Quái” của Vũ Quỳnh, thời Hồng Đức cũng nói đến ý này)...

    Nhưng nếu hình vuông và tròn của bánh chưng và bánh dầy chỉ là hình tượng để thể hiện một ý niệm đơn giản, thì trong những thực phẩm khác cũng có thể lý giải tương tự: đĩa xôi, bánh chay, bánh trôi cũng tròn như bánh dầy. Hoặc bánh gai, bánh cốm, bánh giò... cũng gồm đủ những yếu tố dinh dưỡng và hình thức tương tự như ở bánh chưng. Do đó, nếu chỉ với ý nghĩa và hình tượng đơn giản được gán cho bánh chưng, bánh dầy thì sẽ khó bền vững qua thời gian hơn 2000 năm, chỉ tính với thời gian ít nhất là từ khi Nam Việt của Triệu Đà bị tiêu diệt. Trên thực tế hiện nay, vì chiếc bánh chưng bánh dầy đã mất ý nghĩa nguyên thủy đích thực, nên sự tồn tại của nó chỉ là một phong tục truyền thống và sự cảm nhận thiêng liêng đối với tổ tiên, hơn là một sự tiếp nối những giá trị tư tưởng mà bánh chưng, bánh dầy thể hiện. Vậy ý nghĩa đích thực của bánh chưng, bánh dầy là gì?

    Trước hết, chúng ta đặt vấn đề bắt đầu từ hình tượng bánh chưng vuông và bánh dầy tròn. Hình tượng vuông tròn này đã được sử dụng một cách phổ biến trong ngôn ngữ dân gian, cách đây hơn 20 năm trở về trước. Đó là câu: “Mẹ tròn, con vuông”. Từ trước đến nay, câu “Mẹ tròn, con vuông” thường sử dụng sai lầm như là một thành ngữ để chúc lành cho sản phụ sinh nở; do đó ngày nay không còn mấy ai nhắc tới, bởi vì sự khó hiểu của nó.....

    Câu nói của người Việt được lưu truyền: “Mẹ tròn, con vuông” thường là để chúc lành cho sản phụ sắp sinh nở sẽ rất khó hiểu về ý nghĩa thực tế. Nhưng nếu coi đó là câu tục ngữ mà ông cha lưu truyền cho đời sau sự nhận thức về vũ tru, thì hoàn toàn có thể hiểu được: tính hiếu sinh của vũ trụ - Thái Cực sinh Lưỡng Nghi và Âm Dương hài hòa là nguồn gốc của mọi sự phát triển tốt đẹp (theo ý nghĩa của câu tục ngữ “Mẹ tròn, con vuông” thể hiện vũ trụ quan của người Việt, khác hẳn tất cả các ý niệm về bản nguyên vũ trụ của các nhà Lý học cổ kim, trong tất cả các sách liên quan đến vấn đề này từ trước đến nay, xin được trình bày rõ hơn ở phần sau).

    Theo thuyết Âm Dương thì phạm trù của Âm Dương rất rộng: bao trùm từ sự khởi nguyên cho đến mọi sự vận động, phát sinh, phát triển của vũ tru. Dương bao gồm: Trời, cha, đàn ông... Âm bao gồm: Đất, mẹ, đàn bà... Như vậy, hình tượng vuông tròn và tính chất của bánh chưng, bánh dầy hoàn toàn đầy đủ điều kiện để biểu tượng cho Âm Dương: Bánh dầy có màu trắng, không vị của nếp giã thể hiện sự thuần khiết; tính dẻo thể hiện sự thông biến; hình tròn của bánh dầy thể hiện sự viên mãn của Dương. Bánh chưng hình vuông là tượng của Âm. Nhưng những vật liệu cấu tạo nên bánh chưng là một vấn đề đáng chú ý khi hình tượng vuông tròn của bánh chưng, bánh dầy thể hiện Âm Dương trong vũ trụ quan cổ Đông phương.

    Thuyết Âm Dương và Ngũ hành được chính thức chấp nhận từ thời Hán trong lịch sử Trung Hoa về sau có nói đến: sự chuyển hóa Âm Dương sinh ra 5 dạng vật chất căn bản là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi chung là Ngũ hành. Năm dạng vật chất này tương tác lẫn nhau trong sự chi phối của Âm Dương tạo nên vạn vật.

    Sự tương tác, vận động của Ngũ hành trong thuyết Âm Dương Ngũ hành rất phức tạp, nhưng khởi thủy từ hai dạng vận động chính là tương sinh và tương khắc được thể hiện ở hình vẽ sau.

    ]Nhìn chung Ngũ hành tương sinh theo quan niệm Lý học Đông phương là nguồn gốc của mọi sự phát sinh và phát triển trong sự chi phối hài hòa của Âm Dương. Ngũ Hành tương khắc là nguồn gốc của mọi sự ngưng trệ. Tượng của Ngũ Hành khi thể hiện ở màu sắc là: Hỏa màu đỏ; Thổ màu vàng; Kim màu trắng; Thủy màu đen; Mộc màu xanh lá cây.

    Xét cấu tạo của chiếc bánh chưng gồm bốn vật liệu chính và phải luộc bánh (dụng Thủy) thì có thể khẳng định đó là biểu tượng của Ngũ hành được sắp xếp theo lý tương sinh từ trong ra ngoài: thịt lợn (heo) sắc hồng thuộc Hỏa sinh Thổ - sắc vàng của đậu xanh; Thổ sinh Kim - sắc trắng của gạo nếp; Kim sinh Thủy - dịch chất của gạo nếp và diệp lục tố của lá dong tạo nên màu xanh trên mặt bánh khi luộc; Thủy dưỡng Mộc - lá dong bọc bên ngoài bánh. Cách buộc dây lạc ( lạt) của bánh chưng lễ gồm 4 sợi dây lạc nhuộm đỏ, buộc từng cặp song song và vuông góc với nhau chia bánh chưng thành 9 hình vuông, còn liên quan đến một đồ hình bí ẩn trong văn hoá đông phương cổ đó là cửu cung Hà đồ.Bánh chưng - Biểu tượng của Ngũ hành tương sinh

    Bánh Chưng bánh Dầy – theo truyền thuyết kể lại – đã được chấm giải nhất trong cuộc thi, không phải là ngon hơn các món ăn khác mà là tính biểu tượng cao của nó. Vì vậy, chiếc bánh chưng, bánh dầy không chỉ thể hiện quan niệm vũ trụ quan một cách đơn giản theo cách hiểu của đời sau, khi truyền thuyết này phải xuyên qua thời gian, không gian lịch sử được tính bằng thiên niên kỷ.

    Bởi vì, nếu bánh chưng, bánh dầy chỉ thể hiện những ý niệm đơn giản như người đời sau quan niệm, thì không chỉ có bánh chưng, bánh dầy mới thể hiện được sự đơn giản đó. Chỉ có sự thể hiện cho thuyết Âm Dương Ngũ hành mới chứng tỏ được tính biểu tượng độc đáo của nó. Với ý nghĩa này thì bánh chưng bánh dầy bao trùm luôn những cách hiểu đơn giản của đời sau. Bởi vì Dương bao gồm: trời, cha... Âm bao gồm: đất, mẹ... Theo quan niệm lý học cổ Đông phương thì Âm Dương hài hòa, Ngũ hành tương sinh là nguồn gốc của sự phú túc, phát triển trong tự nhiên, xã hội và con người.

    Bánh chưng, bánh dầy được vua Hùng chấm giải nhất, vì tính biểu tượng độc đáo, thể hiện thuyết Âm Dương Ngũ hành qua hệ tư tưởng vũ trụ quan chính thống trong nền văn minh Văn Lang.

    Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh (thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền Thoại - NXB Văn Hóa Thông Tin)
    Lần sửa cuối bởi longphibaccai, ngày 25-09-2011 lúc 12:02 AM.
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  55. The Following User Says Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011)

  56. #9
  57. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  58. Bài viết
    297
  59. Thanks
    4
  60. Thanked 136 Times in 95 Posts
  61. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    Mỗi chuyện cổ tích Việt đều có tính minh triết, như chuyện bánh chưng bánh dầy. Nhưng mỗi ngôn từ của tiếng Việt cũng có tính minh triết vậy, cứ như nó sinh ra đã là như vậy. Luận về con người, người ta thường viết là “luận về cái Ngã” hay “bản Ngã”, còn nếu dùng từ Việt thì một chữ Tôi đã cho thấy hết, khỏi phải luận:
    Tôi chính là Tâm. Người=Ngôi=Tôi=Tâm. Nếu Tôi mà hành xử không trong sáng, làm cái gì cũng cứ Lạm cho riêng tư bất chính, thì Lạm tức nặng, nên Tôi nặng thành Tội, đánh vần là “Tôi nặng Tội”, đó là Tôi có Tội. Nếu Tôi không thấy thực tế thời đại, cứ giáo điều vào lý tưởng hão huyền, thì đánh vần là “Tôi huyền Tồi”, đó là Tôi Tồi, tôi thua kém người dân các nước tiên tiến. Nếu Tôi chỉ ham sắc đến quáng cả mắt để nhãn quan không nhìn xa trông rộng, không biết giữ thể diện cá nhân và dân tộc, thì đánh vần là “Tôi sắc Tối”, đó là Tôi ngu tối. Mọi việc Tôi làm, cho kết quả hay hoặc dở đều là do Tâm của Tôi mà ra cả, tức là từ cái “Lõi của Tôi”=(lướt)= “Lỗi”, đó chính là tiền đề của cái câu viết bằng chữ nho là “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Lỗi là do từ Lõi của Tôi, nên Tôi phải biết nói câu cửa miệng là “Xin lỗi” khi lỡ phương hại đến bất cứ ai dù lớn tuổi hay nhỏ tuổi hơn mình. Đúng như Đạo Phật dạy rằng: Tâm ta xoay đổi thường xuyên, Cũng thể thành Phật cũng liền Tà ma. Thiên đường, Địa ngục đó mà . Suy ra muôn việc cũng là do Tâm. Chân tơ kẽ tóc Phật răn. Mong người giác ngộ để làm sáng Tâm.
    Để học tiếng Việt được nhanh và đúng (cả đối với người Việt và người nước ngoài) chắc là phải bắt đầu từ học cái minh triết của mỗi ngôn từ tiếng Việt.

    Lãn Miên
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  62. The Following User Says Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011)

  63. #10
  64. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  65. Bài viết
    297
  66. Thanks
    4
  67. Thanked 136 Times in 95 Posts
  68. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    Truyện Man Nương


    Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía nam sông Bình Giang (nay là sông Thiên Đức). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật là chùa Phúc Nghiêm, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo.




    Chùa Dâu (Chùa Pháp Vân), Bắc Ninh

    Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương, cha mẹ đều đã mất, nghèo khổ vô cùng, cũng tới đó dốc lòng theo học Phật. Vì có tật nói lắp, không thể cùng chúng tụng kinh, thường ở dưới bếp, vo gạo, nhặt rau, nấu nướng cho các vị tăng trong chùa và khách tứ phương.

    Giữa tháng năm, đêm ngắn, Man Nương nấu cháo đã chín mà tăng chúng tụng kinh chưa xong, chưa tới ăn cháo được. Man Nương ngồi đợi bên cửa bếp, không ngờ ngủ quên đi mất. Tăng chúng tụng kinh xong đều về phòng riêng. Man Nương ngủ ở giữa cửa bếp, sư Già Lê bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai. Có thai được ba bốn tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về. Sư Già Lê cũng thẹn mà bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngã ba sông thì ở lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già Lê mà trả. Đêm đến, bế đứa bé gái ấy tới gốc cây bên ngã ba đường nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”. Sư Già Lê và Man Nương từ giã nhau ra về, Già Lê cho Man Nương một cây trượng và bảo: “Ta cho nàng vật này. Nàng về nhà, nếu gặp năm hạn hán thì lấy trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh, về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được vì thế được nhờ.

    Khi Man Nương ngoài tám mươi tuổi, gặp lúc cây ấy bị đổ, trôi dạt đến bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng đều bị gãy, bèn cho hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. Gặp lúc Man Nương xuống bến rửa tay, thử kéo chơi thì cây chuyển động. Mọi người đều kinh ngạc, bảo nhờ Man Nương kéo lên bờ, sai thợ tạc bốn pho tượng Phật. Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả. Họ liền vất tảng đá xuống vực sông, một tia sáng chói lên, hồi lâu đá mới chìm xuống nước. Bọn thợ đều chết cả. Dân bèn mời Man Nương đến bái lễ, nhờ dân chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào trong chùa, thếp vàng cúng bái. Sư Già Lê đặt hiệu cho bốn tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện (1). Thiện nam tín nữ ở khắp nơi đều thường tụ họp về chùa vui chơi ca múa, người đời gọi là hội Tắm Phật, ngày nay vẫn còn.

    Chú thích:

    1) Bản VHV 1473 chép thêm rằng: “Gọi Man Nương là Phật mẫu. Ngày mồng 8 tháng 4, Man Nương không bệnh mà chết, chôn ở trong chùa. Người đời lấy ngày này làm ngày lễ Phật đản.

    (Nguyễn Hữu Vinh dịch)


    Bình:


    Tượng Pháp Vân chùa Dâu, phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật


    • Truyện này nói về việc phối hợp giữa văn hóa Việt thời cổ đại và văn hóa Phật giáo.

    Văn hóa Phật giáo biểu tượng bằng sư Già La Đồ Lê với cái tên rất ngoại quốc (Có bản nói là sư Khâu Đà La. Dù là tên gì thì cũng nghe rất ngoại quốc). Già La Đồ Lê có phép đứng một chân: Đây là ý nói về nhất nguyên luận của Phật giáo–tất cả mọi sự đều là Một, và Một đó là Không. (Nhất thiết pháp giai Không–tất cả mọi thứ đều là Không).

    Văn hóa Việt biểu tượng bằng Man Nương. Man là man di, man dã, tức là ngu si dốt nát. Nương là nàng.

    Già La Đồ Lê bước ngang Man Nương là biểu tượng của sự phối hợp giữa hai nền văn hóa, 5 người con là kết quả của phối hợp văn hóa này.

    • Việc dùng man nương làm biểu tượng văn hóa Việt có thể hiểu ở nhiều cấp độ và góc cạnh khác nhau:

    1. Đây là chú tâm về văn hóa mẫu hệ, văn hóa mẹ, lấy mẹ làm chính. Bố chỉ là vai phụ trong truyện. Có 5 con thì 4 con là nữ, và một tảng đá. Chẳng có nam.

    2. Nói rằng phụ nữ ngu dốt (Man Nương) có thể thành Phật là một cách mạng văn hóa về bình đẳng nam nữ trong Phật giáo. Trong truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa) ở Ấn Độ phụ nữ không được đi tu, và không thể thành Phật.

    3. Man nương ngu dốt còn là biểu tượng của vô minh (si mê), gặp Phật pháp từ Già La Đồ Lê, mà giác ngộ thành Phật.

    • Man nương và Già La Đồ Lê phối hợp tạo nên một người con đầu tiên là con gái. Đây là một nhấn mạnh về truyền thống văn hóa mẫu hệ cổ truyền.

    • Đứa con gái này được Man Nương giao lại cho Già La Đồ Lê là biểu tượng cho sự nuôi dưỡng khôn lớn trong tinh thần Phật giáo.

    • Mang con bỏ vào trong hốc cây và được cây nuôi dưỡng gợi lại hình ảnh Phật Thích Ca thiền định dưới cội Bồ Đề và giác ngộ.

    Cây lại đứng ngay ngã ba, nơi ba đường chụm lại. Đây xem ra là biểu tượng của tam thừa chỉ là một. Trong phẩm Thí Dụ của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật có nói Phật dạy 3 thừa—thanh văn thừa, duyên giác thừa, Bồ tát thừa—thật ra cũng chỉ là một Phật thừa. Ba con đường cũng đều là đường đưa đến giác ngộ.

    • Tuy nhiên, cây cổ thụ ở đây còn có thể là tàn tính của tín ngưỡng đa thần xưa cũ. Vào thời cổ xưa phần đông các bộ tộc của loài người đều theo đa thần, trong đó cây cối, mưa, gió, núi, sông… đều là thần, hoặc đều có thần ngự trị. Man Nương nói với cây cổ thụ “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”, tức là cư xử với cây này như một vị thần cây.

    • Cây còn là biểu tượng của tổ quốc. Đất, đá, nước, cây đều là biểu tượng của non sông gấm vóc. Con của Man Nương được nuôi dưỡng trong Phật pháp và tinh khí núi sông.

    • Cây gãy, trôi theo dòng nước đến cửa chùa. Đây là văn hóa nước, văn hóa quê hương tổ quốc—nước của nguồn gốc dân tộc, Động Đình Hồ. Nước là tổ quốc. Chúng ta đã nói đến việc quan trọng của văn hóa nước trong Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

    Pháp vân (2 ảnh trái), Pháp Vũ (2 ảnh phải)


    • Từ cây này tạo thành năm Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật (Phật Đá Sáng, hiện nay vẫn còn được tôn thờ trong Chùa Pháp Vân ở Bắc Ninh).

    Đây khá rõ là việc biến các thần cũ của thời đa thần thành Phật của nền văn hóa mới. Pháp là Phật pháp, vân là mây, vũ là mưa, lôi là sấm, điện là chớp, thạch là đá. Các thần mây, thần mưa, thần sấm, thần điện, thần đá (hay thần núi) của thời sơ khai nay được tôn thành Phật trong nền văn hóa mới.

    • Ngoại trừ đá Thạch Quang Phật không rõ giới tính, bốn Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đều là phụ nữ, không có Phật nam. Một lần nữa nhấn rất mạnh văn hóa mẫu hệ xưa cũ.

    • Thạch Quang Phật, được xem là em út, không có hình dáng người, nhưng là đá, khác với các tượng Phật của các chị khắc từ cây. Đá thì chắc chắn bền vững hơn cây. Đá là núi là đất, là quê hương. Đá Thạch Quang Phật nổi trên mặt nước lâu rồi mới chìm là nhấn mạnh đến Núi(đá) Sông.

    “Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả”. Nghĩa là, đá Thạch Quang Phật là người con quan trọng nhất, là linh khí của bé gái. Phật Đá Sáng, Phật Đất Nước Núi Sông, do đó, là quan trọng nhất và bền vững chắc chắn hơn tất cả các Phật.

    Ở đây ta thấy tinh thần Phật giáo và tinh thần dân tộc quyện vào nhau thật chặt chẻ. Phật giáo, dù là từ Ấn Độ sang, khi đến Việt Nam nó quyện vào văn hóa dân tộc Việt rất khắng khít, để giúp văn hoá Việt phát triển mạnh mẽ và tự nhiên. Xem ra không có xung đột giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt cổ xưa. Và tinh thần dân tộc là một yếu tính tự nhiên của Phật giáo Việt Nam.

    • 5 Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật: Từ góc độ triết lý Phật giáo, Phật pháp hiện diện trong tất cả mọi thứ, kể cả mây, mưa, sấm, chớp và đá.

    • Tại sao lại một Phật mẹ và năm Phật con, chúng ta không rõ. Nhưng cũng có thể đây là biểu tượng của văn hóa âm dương ngũ hành đã có trong văn hóa Việt Nam từ trước. Mẹ cha là âm dương và 5 con là ngũ hành – kim mộc thủy hỏa thổ.

    • Cây trượng sư Già La Đồ Lê tặng Man Nương là biểu tượng của Phật pháp, tương tự như cây gậy của Chử Đồng Tử, của thiền tổ Bồ Đề Đạt Ma, và của Phật Di Lặc và mà ta đã nói đến trong Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

    • Chùa Pháp Vân, còn gọi là Chùa Dâu, Diên Ứng Tự, hay Cổ Châu Tự, hiện nay vẫn còn ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam.
    Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dàn thờ Pháp Điện, và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần. Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy, nên tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu.

    (Trần Đình Hoành bình)
    Lần sửa cuối bởi longphibaccai, ngày 08-10-2011 lúc 10:25 AM.
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  69. The Following User Says Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011)

  70. #11
  71. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  72. Bài viết
    297
  73. Thanks
    4
  74. Thanked 136 Times in 95 Posts
  75. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    Sự Tích Lý Ông Trọng

    Cuối đời Hùng Vương có người tên Lý Thân, huyện Từ Liêm, đất Giao Chỉ (1). Khi đẻ ra rất to lớn, cao đến 2 trượng 3 thước, tính tình hung hãn, phạm tội giết người, tội ác đáng chết, Hùng Vương tiếc mà không nỡ giết đi.


    Đình Chèm, thở Lý Ông Trọng ở xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội

    Đến đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn đem quân sang đánh nước ta, An Dương Vương bèn đem Lý Thân tiến dâng cho nhà Tần. Thủy Hoàng mừng lắm, phong cho làm chức Tư Lệ Hiệu Úy. Khi Thủy Hoàng đã lấy được thiên hạ, sai Lý Thân đem quân giữ đất Lâm Thao, Hung Nô không dám xâm phạm cửa ải. Thủy Hoàng phong Lý làm Phụ Tín Hầu, cho trở về nước. Về sau, Hung Nô lại sang xâm phạm cửa ải. Thủy Hoàng nhớ tới Lý Thân, sai sứ người sang triệu về. Lý Thân không chịu đi, trốn vào rừng núi. Vua Tần trách quở, An Dương Vương tìm mãi không được, nói dối là Lý đã chết vì bệnh tả. Tần sai sứ sang khám. An Dương Vương bèn nấu cháo đổ xuống đất để làm chứng cứ. Vua Tần đòi mang xác sang, Lý Thân bất đắc dĩ phải tự vẫn. An Dương Vương sai lấy thủy ngân bôi lên xác rồi đem nộp vua Tần. Thủy Hoàng rất thương tiếc, mới đúc tượng đồng, đặt hiệu là Ông Trọng, đem dựng ở ngoài cửa Tư Mã, đất Hàm Dương. Trong bụng tượng chứa mấy chục người để lay cho tượng cử động. Hung Nô trông thấy tưởng là quan Hiệu Úy còn sống, không dám đến gần cửa ải. Tới đời Đường, Triệu Xương sang làm quan Đô Hộ đất Giao Châu, đêm mộng thấy cùng Lý Thân giảng sách Xuân Thu, Tả Truyện. Vì thế nên hỏi thăm nhà cũ, lập đền thờ cúng. Đến lúc Cao Biền dẹp giặc Nam Chiếu, Lý hiển linh cứu trợ, Cao Biền bèn sửa sang lại đền miếu, tạc gỗ làm tượng, gọi là đền Lý Hiệu Úy, nay gần bên sông lớn, thuộc xã Bố Nhi, huyện Từ Liêm (2), cách phía tây kinh thành khoảng 50 dặm, (Bố Nhi nay là xã Thụy Hương).
    Mỗi năm giữa mùa xuân đều có tế lễ (3).

    Chú thích:

    1) Bản A 2914 chép: có người ở xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, nay là huyện Từ Liêm đất Giao Chỉ, gần bên sông lớn.
    2) Bản HV 486 chép: thuộc xã Bố Hiện, bản A 2914 chép: thuộc xã Thuỵ Hương
    3) Bản A 2914 còn có đoạn: Đến năm thứ nhất đời Trùng Hưng (Dịch giả: tức năm 1285, đời vua Trần Nhân Tông) được sắc phong làm Uy Mãnh, năm thứ 4 phong thêm làm Anh Liệt. Năm thứ 21 đời Hưng Long (Dịch giả: tức năm 1313 đời vua Trần Anh Tông) sắc phong làm Phụ Tín. Bản A 2914 không có hàng chữ “Mỗi năm giữa mùa xuân đều có tế lễ”.
    .


    Bình:

    • Truyện này nói về trung quân ái quốc và bang giao giữa Âu Lạc và nhà Tần của Trung quốc.

    “Thân” là thân thể chỉ con người của ta. Trọng là nặng, hay là tôn trọng. Thân đi với Trọng, rất rõ là nới về việc đạo nghĩa sống cho chính mình để mình được tôn trọng, kính trọng.

    • Vào thời phong kiến và quân chủ, trung quân và ái quốc thường trùng nghĩa với nhau. Trung với vua (trung quân) cũng chính là yêu nước (ái quốc).

    Khi An Dương Vương mang L‎ý Thân tặng Tần Thủy Hoàng làm của lễ ngoại giao, Lý‎ Thân vâng lời.

    Sau khi được chức tước của nhà Tần và được cho về quê sinh sống, Lý‎ Thân vẫn trung thành với An Dương Vương, dù đã làm tướng nhà Tần. Điểm này rất rõ trong văn hóa Việt lòng trung đặt ở đâu. Dân Việt thì luôn là dân Việt, luôn trung thành với vua Việt, nước Việt—dù đã có thời làm quan xứ người.

    • Vào thời chến tranh bằng gươm dáo, sức mạnh của một người luôn luôn là lợi thế trong chiến tranh, nên luôn luôn được tôn trọng. Tặng dũng sĩ là một món quà tặng rất quý giá, thường là chỉ tặng cho bạn đang giao hảo tốt. Không ai tặng dũng sĩ cho kẻ có thể là thù, vì đó là thêm sức mạnh cho địch.

    Dũng sĩ Lý‎ Thân ở đây còn là biểu tượng của sức mạnh quân sự. An Dương Vươg và Tần Thủy Hoàng lúc đầu có liên hệ tốt để An Dương Vương có thể trợ lực với Tần Thủy Hoàng về quân sự.

    • Khi không còn tin nhau nữa, tức là lúc nói dối nhau—An Dương Vương nói dối Lý Thân bệnh chết, Tần Thủy Hoàng không tin sai sứ sang xét, An Dương Vương phải mang cháo đổ ra đất để gạt, Tần Thủy Hoàng vẫn không tin đòi mang xác đi. Rốt cuộc Lý‎ Thân phải tự vẫn.

    Khi hai vua, hai nước, không còn tin nhau nữa, thì các trợ lực hay liên minh quân sự là điều không thể.

    • Đây có lẽ là truyện dẫn nhập về đoạn Tần Thủy Hoàng sai Triệu Đà xâm chiếm Âu Lạc sau này.

    (Trần Đình Hoành dịch và bình)
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  76. The Following User Says Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011)

  77. #12
  78. Đang ở
    Lạc Việt 5.000 năm Văn H
  79. Bài viết
    297
  80. Thanks
    4
  81. Thanked 136 Times in 95 Posts
  82. Ðề: Truyện cổ tích thần thoại việt nam

    Sự Tích Núi Tản Viên

    Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành nước Nam Việt (1). Núi cao ngất, tròn như cái tán cho nên có tên ấy (2). Xưa, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra 1 bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai. Long Quân đem 50 người xuống biển, còn lại 50 người con trai theo mẹ Âu Cơ chia trị các xứ, hiệu là Hùng Vương. Thần núi Tản Viên là một trong 50 người con trai theo cha xuống biển. Thần từ thủy quốc về đất liền theo đường cửa bể Thần Phù, tìm chỗ sinh sống ở nơi cao ráo, thanh tịnh, dân chúng chất phác, phong thổ hiền hòa.




    Thần ven theo sông lớn tới đất Long Đỗ thành Long Biên. Thần muốn định cư ở đó, song lại không vừa ý.

    Sau thần đi ngược lên sông Lô đến bờ đất Phiên (Phiên Tân) bên bờ sông Phúc Lộc, ngưỡng trông thấy núi Tản Viên, cao lớn đẹp đẽ, các núi khác lớn nhỏ trùng điệp vây quanh, phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Dưới núi thì dân chúng chất phác hiền lành. Cho nên thần mới cho mở một con đường từ đất Phiên cho tới phía nam của núi Tản Viên, ngang qua động Vệ (Vệ Động), tới nguồn sông đất Nham Tuyền, qua bờ đá, lên đỉnh núi Vân Mộng mà làm nhà sống ở đó. Thần thường ngao du xem đánh cá ở đất Tích Giang, đi qua đâu thần đều xây nhà cửa để nghỉ ngơi. Người đời sau, nhờ các vết tích ấy mà lập miếu thờ cúng. Gặp lúc hạn hán hay gặp lúc lụt lội đến khấn cầu đều rất là linh nghiệm. Những lúc trời quang mây tạnh, thấy như có bóng cờ xí thấp thoáng dưới chân núi, dân chúng sống trong vùng đều cho là sơn thần hiển hiện.

    Đời Đường Cao Biền ở An Nam muốn yểm linh mạch bèn mổ bụng con gái chưa chồng mười bảy tuổi, vứt ruột đi, nhồi cỏ hôi nhồi vào bụng, mặc áo quần vào rồi đặt ngồi trên ngai đem tế bằng trâu bò, hễ thấy cử động thì vung kiếm chém đầu. Phàm muốn đánh lừa các thần đều dùng thuật này. Biền đem thuật đó để yểm thần núi Tản Viên, thì thấy thần cưỡi ngựa trắng ở trên mây, nhổ nước bọt xuống rồi bỏ đi. Biền than rằng: “Linh khí ở phương Nam không thể lường được, vượng khí đời nào hết được!”. Sự linh ứng của thần đã hiển hiện ra như vậy đó.

    Tương truyền rằng thần và Thuỷ Tinh cùng cầu hôn với Mỵ Nương, con gái của vua Hùng. Lễ vật của thần đến trước, vua Hùng bèn gã Mỵ Nương cho, thần rước Mỵ Nương về núi Tản Viên. Thủy tinh đến sau, không kịp, cả giận liền đem loài thủy tộc đến đánh để cướp lại. Thần lấy lưới sắt ngăn ngang sông huyện Từ Liêm. Còn Thủy Tinh thì mở một nhánh sông từ sông Lị Nhân chảy ra sông Hát, đổ vào sông Đà để đánh thần núi Tản Viên. Lại mở ngách sông Tiểu Tích Giang hướng về trước núi Tản Viên, qua các động Cam Giá, Đông Lâu, Cổ Ngạc, Ma Sá, Dục Giang, đều đánh sụt thành các vũng nước lớn để mở lối đi cho quân thủy tộc. Thuỷ Tinh thường làm mưa gió mịt mù, dâng nước lên để đánh thần. Dân ở chân núi thấy thế bèn làm hàng rào thưa bằng tre để đón đỡ, đánh trống, gõ cối, hò reo để cứu viện. Mỗi khi thấy rơm rác trôi bên ngoài hàng rào bèn bắn, thủy tộc chết biến thành thây ba ba thuồng luồng trôi ngập cả khúc sông. Thuỷ Tinh chưa nguôi giận, vẫn thường hay đến quấy rối. Hàng năm vào khoảng tháng tám tháng chín thường có lụt lội, dân trong vùng vẫn phải chịu thiệt hại mùa màng. Cho đến nay cũng vẫn như thế!

    Người đời tương truyền rằng đó là vì Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh nhau lấy Mỵ Nương mà sinh chuyện vậy(3).

    Chú thích:
    1) Bản A 2914 thì chép rằng: “Núi Tản Viên, là kinh đô nước Việt Thường, ở phía tây thành Thăng Long đời Lý.
    2) Núi Tản Viên: Chữ Hán Tán 傘, còn có âm Nôm đọc là Tản, Viên: 圓 có nghĩa là Tròn. Tản Viên: tròn như cái tán, như cái dù.
    3) Bản VHV 1473 chép thêm rằng: “Năm Trùng Hưng thứ nhất (Dịch giả: tức năm 1285, đời vua Trần Nhân Tông) được sắc phong làm Hữu Thành Vương, năm thứ 4 thêm sắc phong Khuông Quốc Vương. Đến đời Hưng Long thứ 21 (Dịch giả: tức năm 1313 đời vua Trần Anh Tông) lại được sắc phong làm Hiển Ứng Vương”.
    Bản A 2914 thì chép: “Truyện trích từ chuyện Lỗ Công trong sách Giao Châu Ký”.

    (Nguyễn Hữu Vinh dịch)

    Bình:

    Đền Hạ thờ thần núi Tản Viên trên dãy Ba Vì (xã Minh Quang, Sơn Tây)


    • Thần núi và thần nước đánh nhau để giải thích lụt lội hàng năm. Đây là thời đại phiếm thần, khi mọi sự đều có thể là thần, đều có thể có thần. • Nhân dân theo thần núi, thờ thần núi và chống thần nước cũng là chuyện đương nhiên. Chẳng người nào trên thế gian lại ủng hộ nước lụt.

    • Cao Biền, thứ sử của nhà Đường gởi sang cai trị Giao Châu, muốn trấn yểm thần núi. Đây là diễn tả bất tín trong liên hệ giữa Việt Nam và Trung quốc từ xưa đến nay. Đây là vấn đề tâm lý‎ ngàn đời.

    • Sơn thần, thực ra cũng là thủy thần, vì Sơn Tinh là một trong 50 con của Lạc Long Quân từ dưới biển lên núi làm nhà. Vậy thì, Sơn Tinh và Thủy Tinh thực ra là 2 thủy thần đến từ hai nơi khác nhau. Một là thủy thần của cha ông từ biển về, một là thủy thần đến từ mưa và nước lũ sông rạch.

    Vậy thì đây phải hiểu là cuộc chiến của hai thủy thần thì đúng hơn—một thủy thần tốt (Sơn Tinh) giúp dân, một thuỷ thần xấu (Thủy tinh) hại dân.

    • Sơn Tinh đi theo dòng sông Phúc Lộc, đến bờ đất Phiên. Một nghĩa của phiên là hàng rào; đất Phiên là “đất Hàng Rào”, tức vòng bảo vệ đâu tiên, vòng ngoài lãnh địa.

    Đi theo hướng nam núi Tản Viên: Dân Việt luôn nam tiến trong suốt chiều dài lịch sử.

    Qua Vệ Động, tức là động phòng vệ, phòng thủ, cũng như là hào phòng thủ ta thấy tại vòng ngoài các thành cổ.

    Qua đất Nham Tuyền, tức là Suối Đá. Tuyền là suối, nham là đá lởm chởm nguy hiểm. Đây là hàng phòng thủ trong cùng. Suối để lấy nước uống. Đá lởm chởm để phòng thủ cường địch từ bên ngoài.

    Làm nhà trên đỉnh núi Vân Mộng—trên đỉnh núi đẹp đầy mây (vân) đẹp như mộng. Và đây cũng là chính là cuộc đời “mộng huyển bào ảnh” (mộng ảo bọt bóng) này, theo nhà Phật.

    Toàn địa thế này nằm trong núi Tản Viên, tròn như cái tán, biểu tượng của viên giác, giác ngộ toàn vẹn của nhà Phật. Đó cũng là Không, là Thiền. Biểu tượng của Thiền thường là một vòng tròn trống rỗng.

    Nói tóm lại:

    1. Đây là sơ đồ quân sự của một thành quách với các điểm trọng yếu về phòng thủ–Hàng rào ngoài cùng, rồi hào rãnh sâu bên trong, rồi hàng phòng thủ bằng đá gai góc (hay chông nhọn) bên trong nữa, nguồn nước để uống, và nhà ở trên đỉnh cao nhất.

    2. Và đây cũng là một biểu tượng của đời sống của con người trong thế giới ta bà mộng ảo, cần phải phòng thủ tự bảo vệ mình trước tấn công của tội lỗi tham sân si, và luôn luôn biết rằng tất cả chỉ nằm trong vòng Giác Ngộ của mình.

    • Sơn Tinh và Thủy Tinh, cùng là gốc thủy thần, thì căn bản của cả hai người là giống nhau, nhưng rốt cuộc một xấu một tốt.

    Người tốt, vì không làm điều sai, ngược lại còn giúp đỡ bá tánh–Sơn Tinh giúp nhân dân.

    Người xấu, vì làm điều xấu—Thủy Tinh giành người đẹp trong tay chủ chính danh, và làm muôn dân đau khổ.

    Thủy Tinh là biểu tượng cho cả 3 độc tham sân si mà ta phải có nhiều lớp phòng thủ như đã nói trên: Tham gái, nỗi giận vì tham, và vì thế ngu si, đánh nhau làm hại lương dân đời đời.

    Đây là giáo l‎ý căn bản của Phật gia: Căn tánh của tất cả chúng ta đều như nhau, đều tốt. Tốt hay xấu là do ta lựa chọn hành động thế nào mà thôi.

    (Trần Đình Hoành bình)
    Kể năm hơn bốn ngàn năm
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
    Hồng Bàng là tổ nước ta
    Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang.

    Hồ Chí Minh

  83. The Following User Says Thank You to longphibaccai For This Useful Post:

    Minhquan1993 (28-12-2011)

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Tag của Chủ đề này

Các Chủ đề tương tự

  1. Và như thế , Em Yêu Anh
    Bởi soikul trong diễn đàn Truyện ngắn
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 16-08-2010, 11:01 PM
  2. Bạn được vị thần nào che chở
    Bởi Chip [Lùn] trong diễn đàn Trắc nghiệm - bói toán
    Trả lời: 22
    Bài viết cuối: 18-04-2009, 10:54 AM
  3. Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Nông Thôn
    Bởi quanthe trong diễn đàn Tài liệu
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 26-05-2008, 11:00 PM
  4. Tình trạng bất ổn vĩ mô - Nguyên nhân và giải pháp
    Bởi solarprince trong diễn đàn Kinh tế Xã hội
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 08-03-2008, 10:36 AM
  5. Thần thoại Hy Lạp về cung hoàng đạo
    Bởi nguyen thi tam thu trong diễn đàn Trắc nghiệm - bói toán
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 20-07-2007, 01:03 PM

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
Múi giờ GMT +7. Bây giờ là 05:06 AM.
Diễn đàn sử dụng vBulletin® Phiên bản 4.2.0.
Bản quyền của 2014 vBulletin Solutions, Inc. Tất cả quyền được bảo lưu.
Ban quản trị không chịu trách nhiệm về nội dung do thành viên đăng.
Forum Bottom (500 x 70)
Xem Chi Tiết Tại Đây...